Công nghiệp phục hồi tích cực, chế biến chế tạo tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
Theo báo cáo của Thống kê TP. Hồ Chí Minh, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố trong tháng 4/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, phản ánh rõ nét tín hiệu phục hồi của nền kinh tế. Đáng chú ý, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực chủ lực, nhờ sự cải thiện của đơn hàng xuất khẩu và dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao như điện tử, bán dẫn.
Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4/2026 ước tăng 8,3% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 10,5% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tăng 7,4% và tăng 11,5%; sản xuất và phân phối điện ghi nhận mức tăng mạnh 28,6% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ. Riêng lĩnh vực cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 7,4% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ 0,9% so với cùng kỳ, cho thấy sự phân hóa trong nội tại ngành.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP của TP. Hồ Chí Minh tăng 11,2% so với cùng kỳ, tiếp tục khẳng định đà phục hồi vững chắc của khu vực công nghiệp. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,9%, giữ vai trò trụ cột; khai khoáng tăng 9,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,9%; riêng sản xuất và phân phối điện giảm nhẹ 0,9%. Điều này cho thấy dù tăng trưởng chung tích cực, một số lĩnh vực vẫn chịu áp lực từ chi phí đầu vào, giá năng lượng và nhu cầu thị trường.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP của TP. Hồ Chí Minh tăng 11,2% so với cùng kỳ. Ảnh minh họa
Xét theo ngành công nghiệp cấp II, có tới 28/32 ngành ghi nhận mức tăng trong 4 tháng đầu năm. Nhiều ngành có mức tăng trưởng cao như sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế tăng đột biến 216,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 45,3%; in, sao chép bản ghi tăng 24,9%; sản phẩm kim loại đúc sẵn tăng 20,1%; phương tiện vận tải tăng 18,1%; sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 16,3%; sản xuất giấy tăng 16,1% và sản xuất thuốc hóa dược tăng 13%.
Ở chiều ngược lại, một số ngành vẫn ghi nhận mức giảm như sản xuất kim loại giảm 4%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 2,3%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 1,8%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,9%. Những con số này phản ánh bức tranh phục hồi chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, đặc biệt ở các ngành chịu tác động mạnh từ thị trường xuất khẩu hoặc chi phí nguyên liệu đầu vào.
Đối với 4 ngành công nghiệp trọng điểm của Thành phố, chỉ số sản xuất trong 4 tháng đầu năm tăng 14,4% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng chung toàn ngành. Trong đó, ngành hóa dược tăng 27%; cơ khí tăng 13%; lương thực, thực phẩm tăng 11%; trong khi ngành sản xuất sản phẩm điện tử chỉ tăng nhẹ 1,2%, cho thấy dư địa phục hồi của ngành này vẫn còn thận trọng.
Trong khi đó, 3 ngành công nghiệp truyền thống chỉ tăng 1,3% so với cùng kỳ. Cụ thể, ngành dệt tăng 9,2%; sản xuất trang phục tăng 1,3%; riêng ngành da và các sản phẩm liên quan tiếp tục giảm 1,8%. Điều này cho thấy nhóm ngành thâm dụng lao động vẫn đối mặt nhiều thách thức về đơn hàng, chi phí và cạnh tranh quốc tế.
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu, nhiều mặt hàng ghi nhận sản lượng tăng cao trong 4 tháng đầu năm như gỗ dán tăng 33,1%; dầu đậu nành thô tăng 30,4%; nước chấm các loại tăng 23,1%; thuốc viên tăng 19,9%; bia chai, lon và dầu thô cùng tăng 14,4%; đá xây dựng tăng 14%; bao bì nhựa tăng 11,7%. Ngược lại, một số sản phẩm giảm mạnh như sợi xe từ sợi tự nhiên giảm 42,9%; bê tông trộn sẵn giảm 21,3%; bao bì giấy giảm 11,5%; xe đạp giảm 8,9%.
Tiêu thụ khởi sắc, tồn kho giảm, thị trường lao động cải thiện
Bên cạnh sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm công nghiệp cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành chế biến, chế tạo trong tháng 4/2026 ước giảm nhẹ 0,5% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 6,7% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ tăng mạnh 20,2%, cho thấy nhu cầu thị trường đang dần phục hồi rõ nét.
Đáng chú ý, có 19/23 ngành cấp II ghi nhận mức tăng tiêu thụ, trong đó nhiều ngành tăng cao như sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 74,7%; hóa chất tăng 56,7%; thiết bị điện tăng 50,9%; in, sao chép bản ghi tăng 47,5%; sản phẩm kim loại đúc sẵn tăng 38,5%; điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 32,7%; thuốc lá tăng 25,7%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 21,7%; xe có động cơ tăng 20,3%.
Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tiêu thụ giảm như sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế giảm 39,9%; sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 8,1%; sản xuất trang phục giảm 1,4% và phương tiện vận tải khác giảm 0,6%. Điều này phản ánh sự phân hóa về nhu cầu giữa các ngành, phụ thuộc vào diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế.
Về tồn kho, chỉ số tồn kho ngành chế biến, chế tạo tháng 4 tăng 1,5% so với tháng trước nhưng giảm 10,8% so với cùng kỳ. Một số ngành có tồn kho tăng như sản phẩm kim loại đúc sẵn tăng 56,2%; hóa chất tăng 22%; dệt tăng 20,7%; thiết bị điện tăng 19%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 11,6%. Ngược lại, nhiều ngành ghi nhận tồn kho giảm sâu như phương tiện vận tải khác giảm 80,1%; điện tử, máy vi tính và quang học giảm 70,7%; in, sao chép bản ghi giảm 58,9%; thuốc lá giảm 55,4%; chế biến gỗ giảm 39,1%; sản xuất kim loại giảm 23,8%.
Diễn biến này cho thấy khả năng hấp thụ hàng hóa của thị trường đang được cải thiện, góp phần giải phóng hàng tồn kho và hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các ngành cũng cho thấy mức độ phục hồi chưa đồng đều.
Về lao động, thị trường việc làm trong lĩnh vực công nghiệp tiếp tục khởi sắc nhờ sự gia tăng đơn hàng sản xuất. Trong tháng 4, chỉ số lao động tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ; tính chung 4 tháng đầu năm tăng 1,7%.
Một số ngành có nhu cầu lao động tăng mạnh như sản xuất than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 47,9%; phương tiện vận tải khác tăng 35,6%; chế biến thực phẩm tăng 15,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,1%. Ngược lại, một số ngành giảm lao động như sản xuất đồ uống giảm 14,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 4,8%; sản xuất trang phục giảm 4,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3%.
Nhìn chung, bức tranh công nghiệp TP. Hồ Chí Minh trong 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy xu hướng phục hồi rõ nét với nhiều điểm sáng từ sản xuất, tiêu thụ đến lao động. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng bền vững, doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục thích ứng với áp lực chi phí, biến động thị trường và yêu cầu chuyển đổi công nghệ trong giai đoạn tới.
Trong gần 4 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh cấp phép 19.818 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký hơn 122.000 tỷ đồng, tăng 35,3% về số doanh nghiệp và 27,6% về vốn; đồng thời thu hút gần 3,3 tỷ USD vốn FDI, tăng 227,1%, gồm 539 dự án mới, 58 lượt điều chỉnh vốn và 565 trường hợp góp vốn, mua cổ phần.



