Từ những dự án vài triệu USD thời kỳ đầu mở cửa đến các dự án tỷ USD hôm nay, hành trình thu hút FDI của Việt Nam phản ánh sự trưởng thành của nền kinh tế. Song sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang mở ra cả thời cơ lẫn thách thức mới.
Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chia sẻ góc nhìn về ranh giới giữa thu hút bằng mọi giá và thu hút có chọn lọc và con đường để FDI lan tỏa thực chất đến doanh nghiệp trong nước.
- Nhiều quốc gia đang chuyển mạnh từ thu hút FDI bằng ưu đãi sang thu hút bằng chất lượng thể chế và hệ sinh thái đầu tư. Theo ông, đâu là ranh giới cần xác lập rõ giữa thu hút bằng mọi giá và thu hút có chọn lọc trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam?
TS. Phan Hữu Thắng: Nhìn lại gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, tính từ thời điểm Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành cuối năm 1987 đến năm 2025, chúng ta đã tích lũy được rất nhiều bài học cả về mặt được và mặt chưa được. Nhiều nghiên cứu, tài liệu đã phân tích khá rõ những kinh nghiệm này và một trong những vấn đề thường được đặt ra là ranh giới giữa thu hút đầu tư bằng mọi giá và thu hút đầu tư có chọn lọc.
Thực tế cho thấy, không thể hiểu một cách giản đơn rằng giai đoạn đầu Việt Nam thu hút đầu tư bằng mọi giá. Cách tiếp cận thu hút đầu tư của chúng ta luôn gắn với điều kiện kinh tế và bối cảnh phát triển của từng thời kỳ. Sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, nguồn lực cạn kiệt. Trong bối cảnh đó, việc mở cửa thu hút đầu tư là yêu cầu tất yếu để phục hồi và phát triển kinh tế.
TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trao đổi với phóng viên Báo Công Thương
Tuy nhiên, ngay cả ở giai đoạn đầu mở cửa, Việt Nam cũng không thu hút đầu tư một cách vô điều kiện. Việc thu hút đầu tư được định hướng theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong đó ưu tiên hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa. Khi đó, quan hệ với nhiều nước tư bản còn gặp khó khăn do bối cảnh chính trị, bao vây và cấm vận. Đồng thời, đất nước vừa thống nhất, nhiều vấn đề tư tưởng và kinh tế đặt ra đòi hỏi sự thận trọng trong lựa chọn đối tác và lĩnh vực hợp tác.
Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, các dự án đầu tư thời kỳ đầu chủ yếu có quy mô nhỏ, chỉ vài triệu USD nhưng vẫn được coi là rất đáng quý. Có những dự án đạt mức 100 triệu USD đã được xem là thành công lớn và tạo ra sự phấn khởi rất lớn trong xã hội. So với hiện nay, khi Việt Nam đã thu hút được nhiều dự án có quy mô hàng tỷ, thậm chí hàng chục tỷ USD, sự khác biệt này phản ánh rõ quá trình phát triển của nền kinh tế.
Đó là một hành trình đi lên từ khó khăn, gian khổ của một quốc gia hậu chiến, từng chịu tác động nặng nề của chiến tranh và cấm vận. Chính bối cảnh lịch sử ấy đã định hình cách tiếp cận thu hút đầu tư của Việt Nam trong từng giai đoạn, từ mở cửa thận trọng đến định hướng ngày càng chọn lọc và chất lượng hơn.
- Là người từng trực tiếp tham gia hoạch định và thực thi chính sách FDI ông đánh giá thế nào về khả năng "giữ chân" nhà đầu tư chiến lược lâu dài của Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh yêu cầu xanh hóa sản xuất, tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế ngày càng cao?
TS. Phan Hữu Thắng: Những vấn đề về định hướng thu hút FDI đến nay đã được xác định khá rõ trong hệ thống pháp luật, chính sách và các văn kiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Định hướng phát triển của Việt Nam luôn đặt trong tổng thể xu thế phát triển của kinh tế quốc tế, trong đó Việt Nam vừa là một bộ phận tham gia vừa phải chủ động thích ứng để phát triển bền vững.
Về nguyên tắc lâu dài trong thu hút FDI, Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 ngoài đã nêu rất rõ những vấn đề cốt lõi. Tinh thần xuyên suốt là đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ hợp tác đầu tư, tập trung thu hút các dự án có chất lượng cao, công nghệ cao, có tác động lan tỏa và hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế trong nước. Trên cơ sở đó, yêu cầu bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập quốc tế một cách đầy đủ, cân bằng luôn được đặt ra như những nguyên tắc không thể bỏ qua.
Trong bối cảnh mới hiện nay, có thể cần những bổ sung hoặc điều chỉnh về mặt kỹ thuật, chi tiết để phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, các nguyên tắc nền tảng của Nghị quyết 50 vẫn giữ nguyên giá trị.
Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI phải gắn với tính chọn lọc, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời bảo đảm đa phương hóa, đa dạng hóa để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và vững chắc về an ninh quốc phòng.
Nhìn sâu hơn ở góc độ "giữ chân" các nhà đầu tư chiến lược, khi Việt Nam đầu tư ra nước ngoài chúng ta cũng luôn mong muốn hiệu quả, an toàn và bảo vệ được đồng vốn. Nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam cũng đặt ra những yêu cầu tương tự. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là tiếp tục hoàn thiện, nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, đáp ứng được những yêu cầu chính đáng của nhà đầu tư trên cơ sở nguyên tắc cùng hợp tác, cùng phát triển và cùng thắng.
Qua các đợt tổng kết hằng năm, tổng kết 5 năm, trong đó có tổng kết năm 2025, mục tiêu xuyên suốt vẫn là tiếp tục hoàn thiện thể chế, luật pháp và chính sách về hợp tác đầu tư nước ngoài, thực hiện đúng định hướng đã được xác lập, đồng thời nghiên cứu bổ sung những nội dung phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Muốn nhà đầu tư nước ngoài gắn bó lâu dài với Việt Nam, hoạt động của họ phải có hiệu quả, ít vướng mắc và không gặp những rào cản vượt quá khả năng thích ứng.
Do đó, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và quản lý về đầu tư nước ngoài theo hướng thông thoáng, minh bạch, hạn chế tình trạng chồng chéo giữa các quy định pháp luật. Những vướng mắc về thủ tục hành chính kéo dài đang làm mất nhiều thời gian và chi phí của nhà đầu tư.
Thực tế, có những dự án lớn lẽ ra có thể hoàn tất thủ tục trong vài tháng nhưng lại kéo dài đến cả năm, thậm chí lâu hơn. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp khắc phục, qua đó nâng cao thực chất năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam.
Nhìn lại giai đoạn trước khi Việt Nam rất cần vốn đầu tư đã khuyến khích các địa phương đẩy nhanh việc cấp phép. Có thời điểm các địa phương coi việc cấp phép trong vòng 7-10 ngày là một tiêu chí thi đua và được đánh giá, ghi nhận tích cực. Cách làm đó đã tạo ra một xu thế rõ ràng trong thu hút đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam còn rất nhiều khó khăn.
Hiện nay, dù chúng ta vẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Việt Nam, song trong thực tiễn, không ít dự án quy mô lớn vẫn phải chờ đợi thủ tục trong thời gian dài. Việc kéo dài này vừa làm tăng chi phí vừa ảnh hưởng đến quyết định, niềm tin của nhà đầu tư. Đây là vấn đề cần được tiếp tục cải cách mạnh mẽ để bảo đảm môi trường đầu tư thực sự thuận lợi và hiệu quả.
- Một trong những thách thức lớn là làm sao để FDI thực sự lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Theo ông nút thắt lớn nhất hiện nay nằm ở đâu và cần thay đổi cách tiếp cận chính sách ra sao để tăng liên kết chuỗi giá trị thay vì chỉ dừng ở gia công lắp ráp?
TS. Phan Hữu Thắng:Chúng ta đang thiếu các đối tác Việt Nam đủ năng lực để cùng hợp tác và đầu tư với nước ngoài. Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là một hướng đi rất đúng và rất kịp thời.
Các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã tham gia đầu tư và hợp tác đầu tư với nước ngoài và đạt được những kết quả nhất định. Trong khi đó khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lại còn rất yếu về năng lực hợp tác quốc tế. Nguyên nhân của tình trạng này đã được Nghị quyết 68 chỉ rõ. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và chưa đủ năng lực để hợp tác với đối tác nước ngoài.
Từ thực tiễn đó, định hướng đặt ra là cần tập trung xây dựng một số doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò "đầu tàu", mang tính đột phá trong những ngành và lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao như kinh tế số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ nền tảng đang chi phối xu thế phát triển của kinh tế thế giới. Việt Nam cần chủ động đi sớm vào những lĩnh vực này và tập trung nguồn lực để hình thành các doanh nghiệp đủ mạnh, có khả năng dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa.
Những lĩnh vực thu hút nhiều FDI như điện tử, máy tính, linh kiện, may mặc... đều là các ngành xuất khẩu chủ lực hiện nay
Kinh nghiệm của các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy việc hình thành một số doanh nghiệp hàng đầu trong từng ngành, xây dựng được sản phẩm, thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc tế sẽ tạo ra sức lan tỏa lớn, kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng, từ đó nâng dần quy mô và trình độ của toàn bộ khu vực doanh nghiệp trong nước.
Phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghiệp sinh thái và các khu kinh tế có quy mô, chất lượng và tầm vóc phù hợp là hướng đi đúng. Việt Nam hiện đã có nhiều loại hình khu công nghiệp và khu kinh tế nhưng thực tế vẫn chưa có mô hình nào thực sự nổi trội, đủ sức trở thành hình mẫu rõ nét. Nhiều khu đã được quy hoạch và tuyên truyền rất bài bản ngay từ đầu nhưng hiệu quả thực chất và sức lan tỏa còn hạn chế. Vì vậy, cần tập trung xây dựng một số khu thật sự trở thành đầu tàu, trở thành những tấm gương cụ thể để cộng đồng doanh nghiệp nhìn vào và noi theo.
- Nhìn về năm 2026, ông dự báo những cơ hội và thách thức nào đang chờ đón Việt Nam trong thu hút FDI?
TS. Phan Hữu Thắng: Có hai yếu tố lớn cần được nhìn nhận một cách thực chất. Thứ nhất, bối cảnh quốc tế của giai đoạn tới và xu hướng vận động của dòng vốn đầu tư toàn cầu. Thứ hai là năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam.
Về bối cảnh quốc tế, địa chính trị và cạnh tranh giữa các nước lớn đang diễn biến rất phức tạp, chuỗi cung ứng và chuỗi sản xuất toàn cầu đang có những điều chỉnh. Do đó, định hướng hợp tác đầu tư nước ngoài của Việt Nam vẫn phải kiên trì nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa, nhằm xây dựng một nền kinh tế tự chủ và bảo đảm an ninh quốc phòng. Đây là một yêu cầu rất khó nhưng các nghị quyết của Đảng đã xác định rõ định hướng và giải pháp. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện cho hiệu quả.
Giai đoạn hiện nay là một trong những giai đoạn phức tạp nhất của kinh tế thế giới, tác động trực tiếp đến dòng vốn đầu tư quốc tế. Điểm tích cực là dòng vốn đầu tư vào Việt Nam vẫn duy trì xu hướng tăng. Giai đoạn 2021-2025, vốn đăng ký dao động quanh mức khoảng 38 tỷ USD, có thời điểm giảm do tác động của dịch Covid-19, nhưng đến năm 2025 đã quay trở lại mức trên 38 tỷ USD.
Điều đáng chú ý hơn là vốn thực hiện, yếu tố mà theo quan điểm của tôi quan trọng hơn vốn đăng ký, bởi lượng vốn đăng ký chưa thực hiện còn tồn đọng khá lớn. Trong 5 năm vừa qua, vốn thực hiện tăng dần và đạt mức cao nhất, trên 27 tỷ USD vào năm 2025.
Kết quả này cho thấy, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu biến động, thiếu ổn định, Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm đến đầu tư có sức hấp dẫn. Việc vốn thực hiện tăng lên phản ánh niềm tin của nhà đầu tư, thể hiện qua quyết định tiếp tục rót vốn và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Theo các đề xuất, dự báo của cơ quan hoạch định chính sách, trong giai đoạn 2026-2030, tăng trưởng về vốn đăng ký và vốn thực hiện có thể tiếp tục duy trì nhưng ở mức vừa phải, không đột biến so với giai đoạn 2021-2025. Trọng tâm của Việt Nam trong giai đoạn tới không còn đặt nặng vào số lượng dự án hay quy mô vốn thuần túy mà chuyển mạnh từ lượng sang chất, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số, đầu tư xanh, sản xuất thông minh, trí tuệ nhân tạo. Mục tiêu là để FDI thực sự đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Xin cảm ơn ông!
Năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD - mức cao nhất trong 5 năm qua, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục được duy trì, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.




