Kết luận này được Bộ Chính trị ban hành sau khi xem xét Đề án “Đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới”, qua đó đặt sở hữu trí tuệ thành nhiệm vụ liên ngành cần được thể chế hoá và tổ chức thực hiện.
Chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái
Một điểm then chốt trong Kết luận 51 là yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính về sở hữu trí tuệ sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ. Quản lý hành chính thường chú trọng đến quy trình nộp đơn, thẩm định, cấp văn bằng, gia hạn, xử lý hồ sơ, xử lý vi phạm.
Những việc này vẫn cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, sở hữu trí tuệ sẽ bị thu hẹp thành công việc kỹ thuật của một vài cơ quan chuyên môn. Hệ sinh thái sở hữu trí tuệ còn bao gồm tạo lập quyền, bảo vệ quyền, khai thác quyền, định giá quyền, chuyển giao quyền, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thực thi quyền, giải quyết tranh chấp, dữ liệu về quyền và thị trường quyền.
Trong hệ sinh thái đó, Nhà nước không chỉ cấp văn bằng mà còn phải kiến tạo môi trường để quyền sở hữu trí tuệ trở thành tài sản có khả năng sinh lợi, góp vốn, huy động vốn, chuyển giao công nghệ và nâng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Kết luận 51 bổ sung một mảnh ghép chuyên đề rất quan trọng là nếu tri thức, dữ liệu, công nghệ, thương hiệu và sáng tạo không được xác lập, khai thác và bảo vệ bằng cơ chế sở hữu trí tuệ hiệu quả thì các mục tiêu lớn ấy khó chuyển thành năng lực cạnh tranh thật.
Kinh tế số đặt ra bài toán mới về bảo vệ quyền
Kết luận 51 nêu rõ yêu cầu hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ hiện đại, đồng bộ, thích ứng với kinh tế số và xử lý hiệu quả các vấn đề mới phát sinh từ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài sản số, công nghệ sinh học, bán dẫn, nền tảng số và không gian mạng. Đây là điểm rất mới và rất đúng thời điểm.
Trong môi trường số, vi phạm không chỉ trong phạm vi một cửa hàng, một kho hàng hay một xưởng sản xuất. Một website vi phạm bản quyền có thể dùng tên miền ở nước ngoài, máy chủ trung gian, tài khoản quảng cáo, ví điện tử và nhóm kín trên mạng xã hội. Một gian hàng bán hàng giả có thể biến mất rồi trở lại dưới tên khác. Một bản ghi dữ liệu có thể là chứng cứ quan trọng, nhưng cũng có thể bị tranh luận về thời điểm, nguồn gốc và tính toàn vẹn. Một sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra có thể đặt ra câu hỏi mới về quyền tác giả, dữ liệu đầu vào, quyền của người sáng tạo và trách nhiệm của nền tảng.
Vì vậy, sở hữu trí tuệ trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào công cụ truyền thống mà cần chứng cứ số tốt hơn, cơ chế gỡ bỏ và vô hiệu hóa truy cập rõ hơn, trách nhiệm phối hợp của nền tảng tốt hơn, cơ chế xử lý tái phạm hiệu quả hơn, và khả năng truy vết dòng tiền trong các mô hình vi phạm trực tuyến.
Nếu Công điện 38/CĐ-TTg là phản ứng thực thi cấp bách về quyền sở hữu trí tuệ, thì Kết luận 51 là kiến trúc chính sách dài hạn, xuất phát từ nhu cầu nội sinh của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ
Một nội dung quan trọng khác của Kết luận 51 là phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế định giá quyền, khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản có giá trị trong huy động vốn, đầu tư, góp vốn và phát triển doanh nghiệp.
Đây là hướng phải làm mạnh hơn trong thời gian tới. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thương hiệu, phần mềm, thiết kế, dữ liệu, bí mật kinh doanh, giải pháp kỹ thuật, nhưng chưa biết biến chúng thành tài sản được quản trị. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu có kết quả nghiên cứu, nhưng thương mại hóa còn yếu. Nhiều địa phương có chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, sản phẩm OCOP, vùng nguyên liệu và đặc sản, nhưng chưa có chiến lược bảo vệ và khai thác quyền tương xứng.
Một địa phương có sản phẩm chủ lực không thể chỉ đăng ký chỉ dẫn địa lý rồi để thị trường tự vận hành. Địa phương cần biết ai được quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn chất lượng ra sao, bao bì hợp pháp thế nào, hàng giả thường xuất hiện ở đâu, gian hàng chính thức là gì, kênh phân phối nào đáng tin cậy, và khi có vi phạm thì cơ quan nào phản ứng trước.
Với doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ cũng không còn là việc riêng của bộ phận pháp chế, mà đó cần là chiến lược kinh doanh, gọi vốn, xuất khẩu, mua bán-sáp nhập, quản trị dữ liệu, tuân thủ phần mềm, bảo vệ bí mật kinh doanh và phát triển thị trường.
Thực thi hiệu quả để tạo niềm tin cho thị trường
Một hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh không chỉ được đánh giá qua số lượng đơn đăng ký hay văn bằng bảo hộ được cấp, mà quan trọng hơn là quyền sở hữu trí tuệ có thực sự được bảo vệ khi xảy ra xâm phạm hay không.
Doanh nghiệp cần một cơ chế đủ hiệu quả để bảo vệ quyền của mình khi hàng giả xuất hiện, sản phẩm bị làm nhái, nội dung hoặc phần mềm bị sao chép trái phép, bí mật kinh doanh bị chiếm đoạt hay hàng hóa vi phạm vẫn được bày bán trên các nền tảng số.
Sở hữu trí tuệ là lĩnh vực liên ngành, một vụ việc xâm phạm sở hữu trí tuệ thường liên quan đến nhiều đơn vị. Chẳng hạn, một vụ hàng giả có thể cần sự vào cuộc của quản lý thị trường, hải quan, công an, cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương; một vụ vi phạm bản quyền trên môi trường số có thể cần chủ thể quyền, nền tảng số, nhà mạng, đơn vị thanh toán và cơ quan điều tra cùng tham gia. Nếu các cơ quan không chia sẻ thông tin và phối hợp chặt chẽ, việc xử lý rất dễ bị kéo dài hoặc chỉ dừng ở những vi phạm nhỏ.
Kết luận 51 nhìn đúng điểm nghẽn này khi yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; bố trí đủ nguồn lực cho các cơ quan bảo hộ và thực thi; tăng cường năng lực cho tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh phối hợp giữa công an, hải quan, quản lý thị trường, viện kiểm sát, tòa án và các cơ quan liên quan.
Nâng cao hiệu quả thực thi không đồng nghĩa với xử phạt thật nặng mọi hành vi vi phạm mà cần phát hiện đúng hành vi, thu thập đầy đủ chứng cứ, lựa chọn đúng biện pháp xử lý, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền, vừa không cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, đồng thời xử lý nghiêm các vụ việc có tổ chức, tái phạm, thu lợi lớn hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến người tiêu dùng và thị trường.
Kết luận 51 đặt sở hữu trí tuệ vào đúng vị trí là một hạ tầng quan trọng của phát triển quốc gia, do đó, điều quan trọng là việc đưa chủ trương vào thực tiễn. Theo đó, cần có kế hoạch triển khai cụ thể của Chính phủ, gắn với phân công trách nhiệm, nguồn lực và thời hạn.
Tiếp theo là rà soát, hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực liên quan như thương mại điện tử, dữ liệu, an ninh mạng, tố tụng, xử phạt hành chính, định giá tài sản và chuyển giao công nghệ. Một nhiệm vụ lớn khác là xây dựng Chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ, trên nền Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhưng có cập nhật cho bối cảnh mới.
Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, rút ngắn thời gian xác lập quyền, xử lý dứt điểm các vụ điểm, hoàn thiện cơ chế bồi thường dân sự, nâng cao năng lực của các tòa án chuyên trách.
Đồng thời, các địa phương cần xây dựng cơ sở dữ liệu bảo vệ sản phẩm chủ lực, doanh nghiệp cần chú trọng quản trị tài sản trí tuệ, còn trường học và xã hội cần hình thành văn hóa tôn trọng và bảo vệ sáng tạo.
Kết luận 51 cũng đặt ra cơ chế tổ chức thực hiện, trong đó có yêu cầu theo dõi, kiểm tra, đánh giá và báo cáo định kỳ. Điều này cho thấy sở hữu trí tuệ đã được nhìn như một nhiệm vụ có tính liên ngành, liên cấp và cần được giám sát bằng kết quả cụ thể.
Khi sở hữu trí tuệ được quản trị bằng kết quả cụ thể, nó sẽ không chỉ bảo vệ thành quả sáng tạo đã có, mà còn tạo động lực để Việt Nam sáng tạo nhiều hơn, khai thác tốt hơn và cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ, thương hiệu. Đó là ý nghĩa sâu xa của kết luận 51 trong tình hình mới.



