Thứ 3, 14/07/2026 | English | Vietnamese
04:27:00 PM GMT+7Thứ 3, 14/07/2026
Việc áp dụng xăng E10 trên toàn quốc mở rộng nhu cầu ethanol, tạo thêm dư địa cho dự án sử dụng mật rỉ mía của Đường Quảng Ngãi (QNS).
Ethanol còn gọi là cồn etylic, được sản xuất chủ yếu bằng cách lên men các nguyên liệu giàu đường hoặc tinh bột như mía, mật rỉ, ngô và sắn. Trong lĩnh vực năng lượng, ethanol được pha với xăng khoáng để tạo ra xăng sinh học E5 và E10, tương ứng tỷ lệ ethanol 5% và 10%.
Việc phối trộn ethanol giúp nâng chỉ số octan, cải thiện hiệu quả đốt cháy và giảm một phần nhu cầu sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Được biết, nhiên liệu và phụ gia là nhóm sử dụng ethanol lớn nhất trên thế giới, chiếm hơn 66% doanh thu toàn thị trường trong năm 2025.
Tại Việt Nam, nhiên liệu sinh học bắt đầu được định hướng phát triển từ năm 2007. Xăng E5 được thương mại hóa từ năm 2014 và triển khai trên toàn quốc từ năm 2018. Tuy nhiên, thị trường ethanol nhiên liệu vẫn phát triển chậm do nhu cầu chưa lớn, đầu ra thiếu ổn định và nhiều nhà máy trong nước hoạt động kém hiệu quả.
Tuy nhiên, theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương, từ ngày 1/6/2026, xăng không chì phải được phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc. Xăng E5RON92 tiếp tục được sử dụng đến hết năm 2030.
Việc áp dụng xăng E10 trên toàn quốc sẽ làm gia tăng nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn, trong khi xăng E5RON92 vẫn tiếp tục được lưu hành. Với tổng lượng xăng tiêu thụ khoảng 1 triệu m³ mỗi tháng, nhu cầu ethanol nhiên liệu E100 để pha chế xăng E10 được ước tính khoảng 100.000 m³ mỗi tháng, tương đương 1,2 triệu m³ mỗi năm.
Đây là quy mô lớn hơn đáng kể so với sản lượng thực tế trong nước. Thị trường vì vậy đứng trước yêu cầu mở rộng nguồn cung, khôi phục các nhà máy từng dừng hoạt động và thu hút thêm dự án mới.
Việt Nam hiện có khoảng 7 nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu, với tổng công suất thiết kế gần 500.000 m³ mỗi năm. Nếu vận hành đầy đủ, hệ thống này về lý thuyết có thể đáp ứng khoảng 40–50% nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn xăng E10.
Tuy nhiên, công suất thiết kế khác xa sản lượng thực tế. Theo đánh giá của Chứng khoán Rồng Việt, hiện chỉ có ba nhà máy đang hoạt động thương mại, gồm Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất, Nhà máy Ethanol Tùng Lâm và Nhà máy Ethanol Đại Tân.
Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất tại Quảng Ngãi có công suất thiết kế 108.000 m³ mỗi năm, sử dụng sắn lát khô làm nguyên liệu. Sau khi vận hành trở lại vào cuối năm 2025, nhà máy hoạt động bình quân khoảng 75% công suất và đạt mức tối đa vào giữa tháng 4/2026.
Nhà máy Ethanol Tùng Lâm tại Đồng Nai có công suất thiết kế 72.000 m³ mỗi năm và đang vận hành tối đa công suất. Nhà máy đã lên kế hoạch nâng hiệu suất vận hành, với công suất tối đa có thể đạt khoảng 130% mức hiện tại.
Trong khi đó, Nhà máy Ethanol Đại Tân tại Quảng Nam có công suất thiết kế 120.000 m³ mỗi năm, nhưng hoạt động sản xuất vẫn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Các cơ sở còn lại đã ngừng sản xuất, vận hành cầm chừng hoặc chưa hoàn tất đầu tư. Nhà máy nhiên liệu sinh học Bình Phước đã thực hiện bảo dưỡng lớn từ năm 2018 nhưng chưa hoạt động trở lại. Nhà máy Ethanol Đắk Tô đóng cửa từ năm 2014, còn Nhà máy Ethanol Đại Việt dừng hoạt động từ tháng 4/2013. Dự án nhiên liệu sinh học Phú Thọ ngừng thi công từ năm 2011.
Theo ước tính của Rồng Việt, sản lượng ethanol thực tế trong nước hiện đạt khoảng 25.000 m³ mỗi tháng, tương ứng gần 25% nhu cầu phục vụ phối trộn xăng E10. Phần thiếu hụt còn lại phải được bù đắp bằng hàng nhập khẩu, chủ yếu từ Mỹ, Brazil và Singapore.
Nguồn nguyên liệu là một trong những nguyên nhân khiến ngành ethanol trong nước phát triển chậm. Phần lớn các nhà máy hiện hữu sử dụng sắn, trong khi giá mặt hàng này chịu tác động lớn từ nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc. Khi giá sắn biến động, chi phí sản xuất ethanol trong nước khó duy trì ổn định và khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu bị thu hẹp.
Việc phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài cũng khiến thị trường nhạy cảm hơn với biến động giá ethanol quốc tế, tỷ giá và các gián đoạn thương mại. Trong ngắn hạn, nhập khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng. Về dài hạn, khả năng chủ động nguồn cung sẽ phụ thuộc vào tiến độ khôi phục các nhà máy cũ và việc triển khai những dự án sử dụng nguyên liệu khác ngoài sắn.
Trong bối cảnh phần lớn nhà máy ethanol tại Việt Nam sử dụng sắn, Công ty CP Đường Quảng Ngãi (QNS) đang chuẩn bị triển khai dự án sử dụng mật rỉ mía làm nguyên liệu.
Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2026, QNS được trao bản ghi nhớ hợp tác đầu tư dự án Nhà máy Ethanol An Khê. Doanh nghiệp đồng thời phát hành hồ sơ mời thầu quốc tế để lựa chọn đối tác triển khai.
Dự án có tổng mức đầu tư được phê duyệt hơn 1.740 tỷ đồng, hiện là khoản đầu tư lớn nhất trong danh mục dự án của QNS. Dự án đang trong giai đoạn lựa chọn đối tác sau khi doanh nghiệp phát hành hồ sơ mời thầu quốc tế và các nhà thầu thực hiện nộp hồ sơ dự thầu.
Theo kế hoạch, khoảng 30% sản lượng của nhà máy là cồn thực phẩm, 70% còn lại là ethanol nhiên liệu phục vụ pha chế xăng sinh học.
Điểm khác biệt của Ethanol An Khê nằm ở nguồn nguyên liệu. Thay vì sử dụng sắn như phần lớn nhà máy hiện hữu, QNS dự kiến tận dụng mật rỉ, phụ phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất đường.
Theo chia sẻ trước đó của lãnh đạo QNS được Rồng Việt dẫn lại, công suất nhà máy có thể được mở rộng lên 25.000 tấn mỗi năm, với khả năng xử lý khoảng 1.000 tấn mật rỉ mỗi ngày. Việc sử dụng mật rỉ cho phép dự án gắn với chuỗi sản xuất mía đường hiện hữu của QNS, qua đó bổ sung phương án tiêu thụ phụ phẩm sau quá trình sản xuất đường.
Rồng Việt đánh giá việc đầu tư ethanol từ mật rỉ có thể giúp QNS khai thác sâu hơn chuỗi giá trị mía đường. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần cân đối nguồn nguyên liệu giữa sản xuất đường, điện sinh khối và ethanol, đồng thời bảo đảm vùng nguyên liệu ổn định và hiệu quả công nghệ.
Thị trường ethanol từ mía tại Việt Nam được đánh giá có dư địa phát triển khi nhu cầu nhiên liệu sinh học tăng lên. Dù vậy, hiệu quả của các dự án phụ thuộc vào khả năng bảo đảm nguyên liệu, chi phí công nghệ, đầu ra sản phẩm và cơ chế vận hành thị trường.
Đối với QNS, dự án Ethanol An Khê đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn và cần được đặt trong kế hoạch phát triển tổng thể của vùng mía. Việc mở rộng sang sản xuất ethanol cũng đồng nghĩa doanh nghiệp phải duy trì nguồn mật rỉ ổn định, nâng hiệu suất chế biến và cân bằng lợi ích giữa sản xuất đường, điện sinh khối với nhiên liệu sinh học.
Nếu được triển khai và đưa vào vận hành, Nhà máy Ethanol An Khê sẽ bổ sung thêm nguồn cung cho thị trường trong nước vào thời điểm nhu cầu tăng nhanh. Dự án đồng thời mở rộng chuỗi giá trị mía đường của QNS sang lĩnh vực nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, thời gian thi công, công suất vận hành ban đầu và mức đóng góp vào kết quả kinh doanh hiện chưa được công bố cụ thể.

05:20:00 PM GMT+7Thứ 3, 14/07/2026

05:18:00 PM GMT+7Thứ 3, 14/07/2026

05:03:00 PM GMT+7Thứ 3, 14/07/2026
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global