VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 6, 10/07/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpTỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?

02:42:00 PM GMT+7Thứ 5, 09/07/2026

Tiềm năng, lợi thế cho xuất khẩu nông, lâm thủy sản của nước ta là gì? Những khó khăn, thách thức, vướng mắc nào cần tháo tháo gỡ? Cần những giải pháp mang tính căn cơ, chiến lược gì để thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam trong thời gian tới?… Đây là những vấn đề được phân tích, luận bàn tại Tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức lúc 9h sáng 9/7.

Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới với những mục tiêu đầy tham vọng, tăng trưởng đạt được hai con số trở lên, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc.

Để thực hiện được mục tiêu này, xuất khẩu là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, trong đó xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ngày càng khẳng định vị trí quan trọng. Hàng hóa của nước ta đã có mặt ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhiều mặt hàng giữ vị trí dẫn đầu thế giới về sản lượng và kim ngạch. Năm 2025, tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng hơn 70 tỷ USD.

Xuất khẩu nông, lâm thủy sản dư địa còn rất lớn. Chúng ta đặt mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cán đích 100 tỷ USD trước năm 2030. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, với tư duy đổi mới và đột phá, với tiềm năng, cơ hội, lợi thế sẵn, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng đạt được mục tiêu này sớm hơn, phấn đấu vào cuối năm 2027. 

Có thể khẳng định, những lợi thế, tiềm năng về xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của nước ta là rất lớn; quyết tâm chính trị của các cấp, các ngành, các địa phương là rất cao; người dân và doanh nghiệp rất nỗ lực để có được các sản phẩm nông, lâm, thủy sản đạt yêu cầu, tiêu chuẩn cho xuất khẩu. Tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, có nhiều khó khăn, thách thức và biến động khó lường cùng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số, phát triển bền vững và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu đang đặt ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với ngành nông nghiệp Việt Nam, từ đó đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược và sự chung tay của Nhà nước, các cơ quan chức năng, doanh nghiệp, các nhà khoa học, các hiệp hội ngành hàng và người sản xuất. Đây cũng chính là con đường để nông, lâm, thủy sản Việt Nam phát triển bền vững trong dài hạn, cải thiện đời sống nhân dân và góp phần quan trọng vào tăng trưởng hai con số.

Tiềm năng, lợi thế cho xuất khẩu nông, lâm thủy sản của nước ta là gì? Những khó khăn, thách thức, vướng mắc nào cần tháo tháo gỡ? Cần những giải pháp mang tính căn cơ, chiến lược gì để thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam trong thời gian tới?… Những vấn đề này sẽ được phân tích, đánh giá, luận bàn tại Tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức hôm nay (9/7) với sự tham dự của các vị khác mời là Đại biểu Quốc hội, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, chuyên gia kinh tế, kỹ thuật.

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 1.

Các vị khách mời tham dự chương trình Tọa đàm (từ trái sang): Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản; ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP); ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính); ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn; TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Các vị khách mời tham dự chương trình Tọa đàm có:

1. Ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính)

2. Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) (tham dự trực tuyến từ Thành phố Hồ Chí Minh)

3. Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)

4. Ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn

5. Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản

6. TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Trước hết, các vị khách mời đánh giá thế nào về công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ nhiệm kỳ này để cho thấy quyết tâm đổi mới một cách thực chất nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số? 

Lĩnh vực nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế, đồng thời cho thấy tiềm năng lớn đối với sản xuất, nuôi trồng để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mục tiêu 100 tỷ USD trong năm 2027. Chúng ta có lãng mạn quá không khi đặt ra mục tiêu xuất khẩu này? Các ông đánh giá cơ hội và thách thức để đạt mục tiêu này như thế nào?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 2.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội rau quả Việt Nam (Vinafruit) tham dự trực tuyến Tọa đàm từ Thành phố Hồ Chí Minh

Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội rau quả Việt Nam (Vinafruit): Về kỳ vọng 100 tỷ đô trong xuất khẩu nông lâm thủy sản, tôi cho rằng đây là một kỳ vọng khá cao. Hiện nay ngành rau quả cũng như ngành nông lâm thủy sản của chúng ta đang gặp một số khó khăn. Sản xuất nội tại của nông nghiệp Việt Nam hiện nay tuy có tốc độ tăng trưởng tốt nhưng trong 6 tháng đầu năm 2026 cũng bộc lộ một số vấn đề "điểm nghẽn", ví dụ như chất lượng, kiểm dịch, kiểm nghiệm các mặt hàng nông sản xuất khẩu. Điều này làm cho việc thực hiện kế hoạch năm 2026 của chúng ta gặp nhiều khó khăn. Cho nên mục tiêu 100 tỷ là tương đối cao nhưng với những tiềm năng, năng lực sản xuất cũng như các thị trường của nông lâm thủy sản Việt Nam, tôi cho rằng chúng ta cũng có thể đạt được.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Xin nghe ý kiến ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), tổ chức của một ngành hàng kim ngạch xuất khẩu rất lớn.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký VASEP: Với vấn đề này, ở góc độ đại diện ngành hàng, chúng tôi cũng thấy khá áp lực. Bởi vì với mức tăng trưởng như thế này vào cuối năm tới, tức là 2027, phải đạt khoảng 30% con số kỳ vọng. Tuy nhiên, ở góc độ ngành hàng, chúng tôi thấy rằng cũng phải có một mục tiêu và chúng tôi tin là Chính phủ cũng như các bộ, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ có những giải pháp cho một mô hình tăng trưởng để đạt con số ấy. Với áp lực như vậy thì cần một giải pháp cộng với thực thi từ góc độ doanh nghiệp, địa phương và Chính phủ, các Bộ ngành. Tôi tin là sẽ có giải pháp và chúng tôi mong được tham gia vào quá trình thiết kế hoặc góp ý cho giải pháp. Với mức tăng trưởng này phải có một mô hình mới, khác biệt chứ nếu vẫn theo những công thức hiện tại chỉ xoay quanh khoảng 15-20% thì con số 100 tỷ năm tới sẽ khó khăn. Chúng ta phải có một giải pháp mới và một mô hình mới.

Là một ngành hàng trong cộng đồng nông nghiệp, chúng tôi mong muốn được đóng góp trong đó. Năm nay chúng tôi đang tính tăng khoảng 10%, hơn 12 tỷ đô. Nhưng để đồng hành với mục tiêu này, toàn ngành phải đạt mức tăng lên đến 30% và như vậy phải có nhiều việc phải làm. Chúng tôi tin là sẽ được đồng hành với Chính phủ và với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong câu chuyện này.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Ông Nam cho rằng thách thức, phải cố gắng vươn lên và có giải phá thì có thể đạt được. Xin ông Sơn chia sẻ về vấn đề này!

Ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn: Hôm nay chúng ta nói đến một chỉ tiêu rất cao là đưa xuất khẩu hiện nay của nông nghiệp 70 tỷ đô la năm ngoái lên đến 100 tỷ trong thời gian tới.

Cách đây hơn chục năm, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là người đầu tiên nói với tôi về ước mơ xuất khẩu 100 tỷ nông sản Việt Nam. Suốt thời gian qua, có thể nói chúng ta đã đạt một bước phát triển ngoạn mục về xuất khẩu nông sản. Đấy là một trong những điểm sáng nhất trong xuất khẩu của Việt Nam. Và liên tục trong nhiều năm, chúng ta xuất khẩu tăng trưởng trên hai con số. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn nhất trí ý kiến của ông Bình và ông Nam nói thời gian gần đây chúng ta chậm lại. Những khó khăn cũ như là sản xuất nhỏ lẻ, chia cắt, cộng thêm những khó khăn mới về yêu cầu gắt gao của thị trường, sự thay đổi trong hệ thống tổ chức của chúng ta... tất cả làm cho tăng trưởng của chúng ta chậm lại. Nhưng tôi cũng hoàn toàn tin tưởng rằng nếu chúng ta quyết tâm đổi mới một cách đột phá, thay đổi một cách làm hoàn toàn khác biệt so với trước thì chúng ta sẽ đạt được mục tiêu này, có thể là trước hoặc có thể là đúng quãng thời gian chúng ta đã đặt ra. Và 100 tỷ đô la xuất khẩu không phải là ngoài tầm với của nông sản Việt Nam.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Xin nghe ý kiến ông Âu Anh Tuấn, người theo dõi rất sát tình hình xuất khẩu.

Ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan: Như TS. Nguyễn Sĩ Dũng đã đề cập, năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của chúng ta đạt trên 70 tỷ USD, đóng góp khoảng 20 tỷ USD xuất siêu cho nền kinh tế. Theo thống kê của ngành Hải quan, từ năm 2021 đến nay, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng bình quân khoảng 10-12%/năm.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn duy trì đà tăng, đạt khoảng 35,88 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đã chậm lại, chỉ tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2025.

Dù vậy, một số mặt hàng vẫn đạt mức tăng trưởng 2 con số. Như ông Sơn vừa đề cập, thủy sản tăng 11,4%, rau quả tăng 17,7%. Một số nhóm hàng khác tăng mạnh hơn, như sản phẩm chăn nuôi tăng 34%.

Theo đánh giá của cơ quan Hải quan, thời gian tới, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam vẫn được dự báo tăng trưởng, nhưng tốc độ sẽ chậm lại do chịu tác động của nhiều yếu tố. Đặc biệt là các yếu tố bên ngoài như tăng trưởng toàn cầu chậm, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, biến động tỉ giá và chi phí logistics. Đây là những yếu tố ảnh hưởng khá lớn đến ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.

Bên cạnh đó, các rào cản từ thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe hơn, nhất là về tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và giảm phát thải. Điều này thể hiện rõ tại các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số thị trường khác.

Đối với mục tiêu đạt kim ngạch 100 tỷ USD vào năm 2027, theo đánh giá của cơ quan Hải quan, đây là thách thức rất lớn. Nếu năm nay dự kiến đạt khoảng 75 tỷ USD, thì để sang năm đạt 100 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu phải tăng trên 15%. Đây là mục tiêu không dễ trong bối cảnh thị trường khó khăn hơn và cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, ngay từ đầu năm 2026, nhiều giải pháp đã được triển khai như cắt giảm thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh chuyển đổi số. Những giải pháp này sẽ hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, cũng như xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nói riêng.

Với sự cải cách quyết liệt và thay đổi phương thức thực hiện, tôi hy vọng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2027 có thể tiệm cận mục tiêu 100 tỷ USD. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần rất nhiều nỗ lực từ cả Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp.

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 3.

Các chuyên gia trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Giang Thanh

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Ông Âu Anh Tuấn đã nêu nhiều ý kiến dựa trên số liệu thực tế. Có thể thấy, nếu có các giải pháp đột phá, chúng ta có thể tiến tới mục tiêu này, nhưng thách thức là rất lớn. Xin mời chuyên gia Tô Nguyễn Thành, cho ý kiến!

Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản: Theo tôi, mục tiêu 100 tỷ USD là con số rất thách thức và không dễ dàng. Tuy nhiên, thời gian qua, chúng tôi có tham gia một số dự án liên quan đến truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số. Qua đó, chúng tôi nhận thấy việc đưa công nghệ vào từng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cũng như trong công tác điều hành vĩ mô, sẽ tạo điều kiện thúc đẩy chuyển đổi sản xuất. Đây có thể là một tiền đề quan trọng để từng bước đáp ứng mục tiêu đặt ra.

Tất nhiên, vẫn còn rất nhiều rào cản. Nhưng với những kết quả bước đầu, tôi cho rằng mục tiêu này tuy thách thức, nhưng cũng là mục tiêu để chúng ta phấn đấu. Để đạt được, cần có sự phối hợp của các bộ, ngành, đặc biệt là sự chủ động từ phía doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nhìn nhận đây là thách thức lớn và cùng với Chính phủ thúc đẩy mục tiêu này. Khi các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp cùng vào cuộc, mục tiêu đó mới có khả năng đạt được.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Như vậy, các chuyên gia tham dự tọa đàm đều thống nhất rằng mục tiêu 100 tỷ USD là rất thách thức, nhưng có thể đạt được nếu có các giải pháp đột phá. Ông Nam, ông Sơn cũng đều nhấn mạnh rằng phải có đột phá thực sự thì mới có thể đạt mục tiêu này.

Theo tôi, đột phá trước hết phải bắt đầu từ thay đổi tư duy. Nếu chỉ sản xuất nông nghiệp để xuất khẩu thì sẽ khó đạt được mục tiêu. Chúng ta chỉ có thể đạt được nếu chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.

Điều quan trọng không chỉ là tăng sản lượng, mà phải nâng được giá trị. Đó phải là một chuỗi giá trị được kết nối đồng bộ. Chúng ta không chỉ bán sản phẩm, mà phải bán chất lượng, bán thương hiệu, bán sự tin cậy và bán cả câu chuyện của sản phẩm. Những điều đó không thể chỉ người nông dân hay ngư dân có thể làm được, mà cần sự tham gia của cả một chuỗi trong nền kinh tế.

Hiện nay, nhiều mặt hàng của Việt Nam đang đứng đầu thế giới về sản lượng, nhưng giá trị còn thấp. Nếu với sản lượng xuất khẩu hiện nay, chúng ta nâng được giá trị sản phẩm lên, thì mục tiêu 100 tỷ USD sẽ trở nên khả thi hơn.

Vấn đề là chuỗi giá trị hiện nay chưa được kết nối hiệu quả. Có những mắt xích thuộc trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan công quyền, như truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch, kiểm nghiệm. Đây không phải là việc người nông dân hay doanh nghiệp có thể tự làm được, mà cần sự tham gia của cơ quan Nhà nước.

Nếu thiết kế được chuỗi giá trị hiệu quả và chuyển sang bán giá trị thay vì chỉ bán sản lượng, thì với sản lượng hiện nay, giá trị xuất khẩu hoàn toàn có thể tăng mạnh. Tuy nhiên, đó là bài toán liên kết tổng thể. Qua trao đổi, có thể thấy rằng chỉ khi có đột phá thực sự, chúng ta mới có thể đạt được mục tiêu này.

Là những chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, các ông có nhìn nhận và đánh giá sâu về vai trò của hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong đóng góp vào tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Để có những kết quả như vậy, chúng ta đã nắm bắt, tận dụng được các cơ hội, lợi thế, tiềm năng như thế nào? Bên cạnh thuận lợi, xin các ông phân tích thêm về những khó khăn, vướng mắc cần tập trung tháo gỡ, ứng phó, giải quyết, nhất là những nhiệm vụ mà các bộ, ngành, địa phương phải làm về cơ chế, chính sách hiện nay liên quan đến hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Những mặt hàng nông, lâm, thủy sản nào được coi là thế mạnh, là chủ lực cần được duy trì, đầu tư, tăng cường cho xuất khẩu? Trước tiên, xin được nghe ý kiến của ông Đặng Kim Sơn!

Ông Đặng Kim Sơn: Có thể nói vai trò của xuất khẩu nông sản hết sức đặc biệt. Những ngày đầu tiên khi chúng ta quyết định đổi mới, có thể nói là qua một đêm, từ nước nhập khẩu thuần về nông sản, chúng ta bỗng chốc chuyển thành nước xuất khẩu, chủ yếu lúa gạo sau đó đến các nông sản khác. Việc chúng ta xuất khẩu giúp cân đối trở lại thâm hụt thương mại của chúng ta, nhờ đó tỉ giá hối đoái của ta được giữ rất tốt, các cân đối vĩ mô được đảm bảo.

Ngày nay, xuất khẩu nông sản của chúng ta như các khách mời vừa trao đổi, năm ngoái xuất khẩu nông sản đạt 70 tỷ USD, riêng xuất siêu đã 20 tỷ USD. Một đồng làm ra từ nông nghiệp đưa trở lại người dân nông thôn không phải chỉ việc làm mà cả thu nhập, cả an ninh lương thực và lan tỏa cho toàn nền kinh tế, đi thẳng đến những người nghèo nhất, những nơi xa xôi hẻo lánh nhất, đến những nhóm đồng bào thiệt thòi nhất. Có lẽ là không chính sách xóa đói giảm nghèo nào tốt hơn là việc đưa 9 triệu hộ nông dân nhỏ lẻ của chúng ta ra thẳng thị trường quốc tế và bán trên thị trường quốc tế.

Xuất khẩu đem lại hệ số đóng góp nội địa cao nhất, đem lại hệ số đầu tư ICOR cao, đem lại khả năng cạnh tranh tốt về nông sản. Không phải ngẫu nhiên mà nghị quyết Trung ương lần thứ 19 khẳng định nông nghiệp là lợi thế quốc gia. Có thể nói tóm tắt xuất khẩu nông sản là loại xuất khẩu đặc biệt ở đất nước ta.

Những tiềm năng còn rất lớn. Ông Dũng vừa nói về giá trị. Tôi nghĩ chúng ta bây giờ mới đang nói giá trị đơn thuần trong thực phẩm như giá trị về dinh dưỡng, nói về ngon, bổ. Thế nhưng chúng ta cũng nói thêm về vệ sinh an toàn, nói thêm về câu chuyện kể, tức là văn hóa, lịch sử. Chúng ta đang kể về nhu cầu ngày càng cao của khách hàng tiêu dùng trên thế giới về xanh, sạch, về bảo vệ xã hội. Ngoài ra, chúng ta góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho các nước khó khăn, các nước đang gặp phải thiên tai chiến tranh, góp phần tạo ra sức mạnh mềm của đất nước chúng ta. Cho nên về giá trị, chúng ta còn rất lớn. Đấy là chưa nói đến giá trị chế biến sâu hơn, giá trị phụ phẩm, chưa nói đến một nền kinh tế tuần hoàn.

Khó khăn thì lát nữa trong các phần tiếp theo chúng ta sẽ bàn nhiều nhưng tôi nghĩ là làm thế nào để người nông dân Việt Nam vượt lên khỏi quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết lại với nhau và tiến ra thị trường quốc tế. Phải tháo gỡ cùng với nhân dân, tất cả những vướng mắc phải tháo hết để thị trường hoạt động mạnh, tốt, và trên nền tảng đó, khoa học công nghệ, vốn đầu tư rồi thương hiệu mẫu mã sẽ xuất hiện.

Ông Nguyễn Hoài Nam: Từ nay đến năm 2027, sơ bộ có thể thấy khoảng 500 ngày. Với một chỉ tiêu cao như thế này, chúng ta phải có mô hình mới, phải có nguồn lực và phải có đầu tư. Chúng ta không chỉ nói suông rồi sau đó hô hào. Dưới góc nhìn của tôi, giả dụ Chính phủ giao cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm tổng công trình sư để chỉ đạo chung chuyện này, thì tôi nghĩ phải lập một ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo ấy phải kết nối được tất cả các ngành hàng, đại diện ngành hàng và doanh nghiệp, vì cuối cùng những chủ thế ấy là những người làm ra của cải để xuất khẩu.

Thông điệp này hay là mô hình và giải pháp, chỉ đạo này phải đến được với các cộng đồng. Ngành nông nghiệp, kể cả những lĩnh vực thủy sản hay lâm sản, rau quả, đang xuất khẩu tốt. Nhưng để đạt 100 tỷ, chúng ta cần phải soát xét tất cả cơ hội, dư địa có thể sàng lọc được, kể cả những nhóm mặt hàng hiện còn đang nhỏ bé cũng cần đưa vào hệ quy chiếu đồng hành với chương trình này. Rau quả, lâm sản, thủy sản nhưng còn những mặt hàng khác nữa, như chăn nuôi gia cầm, gia súc lớn, gia súc nhỏ mà hiện chúng ta có số lượng đàn nuôi khá lớn. Nhưng để định hướng ra xuất khẩu lại là câu chuyện khác. Tôi nghĩ rằng đầu tiên cần phải có mô hình mới, cần phải tính hết tất cả các dư địa, xem xét hết những cơ hội ở ba góc độ: Thứ nhất là cơ hội thị trường. Thứ hai là cơ hội về thể chế. Và thứ ba là cơ hội về thực thi. Nếu được Chính phủ phê duyệt rồi Ban chỉ đạo là Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì cùng các bộ, và có một chương trình Chính phủ chỉ đạo như Chương trình "500 ngày đêm". Chúng ta mạnh dạn theo tinh thần cách mạng để thấm được các giải pháp và nỗ lực này đến từng doanh nghiệp trong ngành. Về góc độ thực thi, tôi hình dung và mong muốn như vậy.

Về những ngành hàng để chọn lựa, tôi nghĩ không nên bỏ lĩnh vực nào trong nông nghiệp. Những ngành xuất khẩu nhiều như lâm sản, thủy sản, rau quả hay cà phê nhưng những mặt hàng đang nhỏ theo góc độ thống kê cũng phải đưa vào.

Với kinh nghiệm hội nhập của mình, chúng tôi biết rằng dư địa thị trường vẫn còn. Nhưng chúng ta luôn phải hiểu rằng đang cạnh tranh với những nước cũng luôn luôn vươn lên. Chúng ta phải có giải pháp tốt hơn hoặc bằng họ. Như kinh nghiệm ngành chúng tôi chẳng hạn, nếu không "chiến đấu" với thị trường Mỹ 10 năm qua thì thủy sản sẽ không giữ được thị phần tại Mỹ vì Mỹ bảo hộ sản xuất trong nước rất quyết liệt.

Hiện nay, không có mặt hàng nào của ngành nông nghiệp Việt Nam chịu nhiều đạo luật phía Mỹ đưa ra như thủy sản. Chỉ mình con tôm hiện nay đang mang về 4 tỷ USD, riêng thị trường Hoa Kỳ đã khoảng gần 1 tỷ USD. Tại sao thị trường Mỹ gia cường rất nhiều nguồn lực để ngăn cản mặt hàng tôm của chúng ta? Và nếu chúng ta không có được năng lực hoặc cách tiếp cận đúng, chúng ta sẽ không giữ được thị trường Mỹ. Câu hỏi ở đây là những khó khăn gì, tôi nghĩ rằng luôn luôn phải chú ý đến vấn đề thị trường đầu tiên bởi vì thị trường sẽ kéo sản xuất của chúng ta. Còn ở trong nước, chúng ta đã có chương trình này, đó là sự động viên và đầu tư chắc chắn lnhiều người tham gia, chúng ta sẽ có nguồn lực lớn. Nhưng thị trường cần quan tâm đầu tiên.

Từ góc độ ngành hàng chúng tôi, để được tham gia vào câu chuyện này, ngay từ bây giờ chúng tôi đang có một gói khoảng 10 nội dung đề xuất. Chúng tôi gọi đấy là mở cơ hội, mở dư địa cần giải quyết của Nhà nước, bao gồm 3 mảng: Thị trường, thể chế và thực thi.

Lấy ví dụ, bây giờ con số xuất khẩu ngành chúng tôi là 12 tỷ USD hay là 1,5 triệu container hàng. Muốn lên mức 16 tỷ USD thì không phải 1,5 triệu container, mà phải là 2,5 triệu container. Cần thêm 1 triệu container hàng thì nguyên liệu lấy ở đâu? Vấn đề đầu tiên phải đặt ra là như vậy. Ngưỡng môi trường, ngưỡng đất đai quy hoạch, ngưỡng khai thác biển chúng ta còn bao nhiêu nữa? Chúng ta phải tính được. Và khi tiếp cận dưới dạng hội nhập quốc tế, chúng ta phải tính đến một chuyện nữa là không phải chỉ có xuất của chúng ta đi mà khi chúng ta có năng lực cạnh tranh về chế biến hàng giá trị gia tăng, chúng ta phải biết lợi thế này để gom được các nguyên liệu tốt trên toàn cầu về để xoay vòng đồng vốn trong vòng 45 ngày.

Về câu hỏi khó khăn lớn nhất đối với ngành là gì thì theo tôi đó phải là mô hình mới và đầu tiên nhất là nguyên liệu. Phải có nguyên liệu thì mới lên được 16 tỷ, không có hàng hóa thì làm sao giữ được.

Thứ hai là những ngành nông nghiệp mà tôi tin là ít nhất 5 năm, 10 năm nữa Việt Nam chưa thể thay đổi được. Đó là ngành thâm dụng lao động. Hiện nay, để làm ra 1,5 triệu container, chúng tôi đang có mấy trăm nghìn công nhân. Dù đã tối đa hóa về công nghệ nhưng đặc thù ngành vẫn cần lượng lao động nhất định. Với ngành thâm dụng lao động chúng tôi, thời điểm 2026, các doanh nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu lao động trầm trọng. Không có lao động chúng ta sẽ không đảm bảo được số lượng đơn hàng tính theo đơn vị 1 tháng. Một tháng hiện cần 200 container nhưng với tổng máy móc và nhân lực bây giờ làm được 100 container. Như thế con số 100 tỷ xuất khẩu hay 16 tỷ USD riêng cho thủy sản đặt ra cho thời điểm 500 ngày đêm cũng khá đuối. Cho nên vấn đề thứ hai nếu được đề xuất thì chúng tôi sẽ nói ngay là bài toán về lao động. Lao động thì thiếu, tăng lương lại rất cao, thế nhưng ở các địa phương hiện nay vẫn cổ vũ cho những chương trình xuất khẩu lao động. Chúng tôi thấy rằng doanh nghiệp sản xuất rất băn khoăn bởi vì họ không tuyển được lao động trong khi lại có các đơn vị, tổ chức, thậm chí là địa phương, hô hào thúc đẩy xuất khẩu lao động. Nếu không có lao động thì ngành nông nghiệp, trong đó có thủy sản, không giải quyết được bài toán.

Thứ ba là về tín dụng. Tôi vẫn giữ quan điểm, góc nhìn của ngành hàng chúng tôi là một ngành hội nhập khá sâu rằng cần mua đứt nguyên liệu bên ngoài hoặc nguyên liệu của bà con nông ngư dân, sau đó chế biến thành hàng giá trị gia tăng để cung ứng cho thế giới. Trong quá trình sản xuất, chúng tôi cần nguồn vốn. Nguồn vốn bây giờ cho 100 container/tháng khác với nguồn vốn cho 200 container/tháng. Thế nhưng ở góc độ ngân hàng đánh giá rủi ro, liệu họ có chung tầm nhìn 100 tỷ này trong năm 2027 không, Hay họ vẫn giữ cách quản trị rủi ro hiện nay cho nguồn tín dụng 100 container thôi?

Nói đơn giản thế này, nếu muốn tăng trưởng thì phải có đầu tư, nhưng hiện nay ngân hàng đang huy động tiền vào hơn 8-10%. Với mức huy động ấy, dòng tiền cho đầu tư sẽ giảm đi vì người ta sẽ đẩy vào ngân hàng, người ta chỉ gửi ngân hàng. Còn ngân hàng phân bổ cho xuất khẩu, cho nông nghiệp 100% hay phân bổ đi đâu là quyền của ngân hàng. Tôi muốn nói rằng khi lãi suất huy động đang tăng lên, thì dòng tiền cho đầu tư sẽ giảm mà không đầu tư thì lôi kéo thặng dư, lôi kéo con số 100 tỷ này sẽ khó khăn.

Trước mắt, xin nêu 3 vấn đề khá lớn, nổi cộm. Tôi tin rằng chuyện của thủy sản cũng tương tự với các lĩnh vực nông nghiệp khác. Đó là vấn đề về lao động thiếu, vấn đề nguyên liệu chúng ta có đủ cho mức gấp đôi không, và thứ ba là tín dụng. Chúng ta phải tiếp cận ở mô hình khác, cần phải mở thêm. Mặc dù hiện nay ngành Ngân hàng đã có chương trình riêng cho thủy sản, lâm sản rồi cho xuất khẩu, một chương trình rất tốt nhưng chỉ đang mức ở y như thế này thôi trong khi chúng ta tính đến con số gấp 30% trong năm tới. Tôi nghĩ rằng cần phải có giải pháp mạnh mẽ hơn.

Ông Nguyễn Thanh Bình: Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Sơn cũng như là ông Nam đã nêu ra. Mục tiêu chúng ta đưa ra là 100 tỷ USD mà chỉ trong vòng 500 ngày. Hiện nay chúng ta đang đạt kim ngạch trên 70 tỷ USD, chúng ta phải đạt được khoảng trên 27 tỷ USD nữa. Đó là một thách thức rất lớn. Chúng ta cần có một cơ quan điều phối tổng thể để điều hành sự thay đổi đột phá, để đạt được kết quả 100 tỷ USD. Thuận lợi đã nói rồi. Còn về khó khăn, tôi cũng nhất trí với ý kiến của ông Nam.

Đối với ngành rau quả, tôi nêu ra một số khó khăn hiện nay ngành đang gặp phải. Thứ nhất là tập quán canh tác của người nông dân hiện nay vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ và canh tác theo thói quen và tập quán. Chính những chỗ này làm cho tài nguyên của chúng ta bị khai thác cạn kiệt, bị bào mòn. Ví dụ, với đất trồng trái cây ở miền Tây Nam Bộ, việc bà con nông dân sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong một quá trình rất dài làm tích tụ độc tố, chất độc cho trái cây, các loại cây ăn trái, như các kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện nay, những vùng trồng trái cây ở miền Tây Nam Bộ chất lượng hầu như không đạt yêu cầu xuất khẩu. Chẳng hạn mặt hàng sầu riêng hay mít, kim loại nặng tồn dư trong đất nên khi vào trái, chất lượng không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Đây là vấn đề lớn mà bà con nông dân không thể tự xử lý được, cần có sự vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như của các nhà khoa học, để xử lý vấn đề tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức.

Thứ hai là vấn đề về kiểm tra, kiểm định hàng hóa xuất khẩu. Năng lực kiểm tra, kiểm định của các đơn vị, cơ quan quản lý nhà nước không đáp ứng được. Việc này ở cuối năm 2025 và đầu năm 2026 thể hiện rất rõ. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, nhất là trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc, thông quan rất chậm, bởi vì kiểm tra không kịp, tồn hàng, hàng hóa nằm lưu kho, chờ thông quan rất lớn. Đây là vấn đề các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam, ví dụ như Hải quan, cơ quan Kiểm dịch thực vật, và các cơ quan kiểm nghiệm, giám định… cần phải thay đổi. Việc này có thể phải đầu tư thêm, và làm việc với phía Trung Quốc để cấp thêm phép cho các cơ sở kiểm định của Việt Nam. Và phải đầu tư xây dựng tại những vùng nguyên liệu để có thể giải quyết kịp thời yêu cầu của doanh nghiệp xuất khẩu.

Vừa rồi chúng tôi đã cùng với Đại sứ quán Trung Quốc, Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc và Hiệp hội Doanh nhân Trung Quốc tại Việt Nam tổ chức Diễn đàn Thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc. Phía Trung Quốc đưa ra ý tưởng xây dựng Cửa khẩu thông minh và Hải quan thông minh. Tất cả hàng hóa sẽ được số hóa và cập nhật đến từng lô hàng, hay thậm chí như sầu riêng là từng trái sầu riêng đều được mã hóa và khai báo thông qua hệ thống dữ liệu liên thông giữa Hải quan Việt Nam và Hải quan Trung Quốc. Rồi việc công nhận kết quả lẫn nhau giữa cơ quan giám định, kiểm định hai nước. Như vậy mới đẩy nhanh được tốc độ thông quan, tốc độ xuất khẩu. Đó là một vấn đề khó khăn và chúng tôi đề xuất các cơ quan quản lý nhà nước phía Việt Nam và phía nước nhập khẩu nên có những đàm phán để kết nối dữ liệu và phối hợp, hợp tác để thông quan hàng hóa nhanh nhất.

Về lợi thế của Việt Nam, chúng ta đều biết Việt Nam có thị trường rất lớn, lớn nhất thế giới, về nông sản. Đó là thị trường Trung Quốc, ngay bên cạnh. Chúng ta có nhiều lợi thế, ví dụ như tập quán, thói quen tiêu dùng của Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng. Người Trung Quốc rất thích dùng những sản phẩm trái cây của Việt Nam.

Thứ hai là lợi thế về logistics. Việt Nam có thể sử dụng nhiều loại hình vận chuyển để đưa hàng hóa sang Trung Quốc: Đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đó là lợi thế. Nhưng có một vấn đề chúng ta phải thay đổi. Tôi đồng ý với TS. Nguyễn Sĩ Dũng là cần thay đổi tư duy của người sản xuất, của những người tham gia vào chuỗi cung ứng. Chúng ta phải thay đổi tư duy sản xuất. Bây giờ chúng ta vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất theo sản lượng, mà chưa chú ý nhiều đến chất lượng và an toàn của sản phẩm. Thị trường bây giờ đã thay đổi rất nhanh, rất nhiều. Nếu chúng ta không thay đổi tư duy về chất lượng, phải đưa tiêu chuẩn chất lượng và an toàn lên hàng đầu, thì khách hàng nước ngoài cũng như các nước nhập khẩu sẽ từ chối, không nhập khẩu hàng hóa của chúng ta. Đây là vấn đề tôi cho rằng rất lớn và cũng mất rất nhiều thời gian chứ không phải chỉ trong một thời gian ngắn có thể đáp ứng được. Nhưng đây cũng là việc bắt buộc phải làm. Đó là tổ chức lại sản xuất theo những quy trình mới, ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất.

Về câu hỏi nên chọn những mặt hàng nào, tôi cho rằng hiện nay chúng ta có những ngành hàng và mặt hàng thế mạnh, đang phát triển rất tốt và còn rất nhiều tiềm năng, chúng ta vẫn chưa khai thác hết. Ví dụ mặt hàng sầu riêng, hiện nay chúng ta đã có diện tích khoảng 170.000 hecta. Sản lượng của chúng ta năm nay có thể sẽ vượt Thái Lan, lên đến 1,8-2 triệu tấn. Nhưng chất lượng của chúng ta đang có vấn đề.

Thứ hai là việc đàm phán mở cửa để tăng thêm diện tích, tăng thêm sản lượng. Hiện nay chúng ta đạt một tỉ lệ khiêm tốn, khoảng chừng 30-40% diện tích trồng sầu riêng của chúng ta được cấp mã số vùng trồng. Như vậy còn diện tích rất lớn. Chúng ta cũng phải đẩy nhanh tốc độ đàm phán với Trung Quốc để tăng mã số vùng trồng.

Thứ ba, ngoài những mặt hàng hiện đang xuất, còn nhiều mặt hàng khác. Tôi đồng ý với ông Nam rằng chúng ta phải tận dụng tất cả những mặt hàng khác, dù là nhỏ. Theo quan điểm tôi, chúng ta nên tập trung vào những mặt hàng thế mạnh, đang còn dư địa, còn tiềm năng lớn. Nếu chúng ta dàn trải quá vào những sản phẩm có số lượng không nhiều thì không có tác dụng tăng kim ngạch xuất khẩu. Chúng ta nên đầu tư trọng tâm, trọng điểm, chẳng hạn gạo, cà phê, trái cây, thủy sản… Đó là những mặt hàng nên đầu tư và tập trung để đẩy mạnh kim ngạch.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Qua các ý kiến, các khách mời có nhiều ý tưởng hay. Cần có một "tư lệnh" để nhắm tới mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD. Đến năm 2027, thời gian còn khoảng 500 ngày. Chúng ta cần có một chiến dịch 500 ngày thúc đẩy xuất khẩu đạt 100 tỷ USD hay không? Đó là một khuôn khổ có sức hấp dẫn. Nhưng rõ ràng phải có người điều hành, và điều hành theo chuỗi.

Nếu chúng ta đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đứng ra làm, có lẽ cũng không kết nối được tất cả các chuỗi, bởi vì còn có Hải quan, Công Thương, rất nhiều. Nhưng ý ở đây là phải có một người điều hành chuỗi, bởi vì có rất nhiều chủ thế cần kết nối với nhau. Ông Bình đề cấp đến người sản xuất phải thay đổi cách thức, nếu không chất lượng sản phẩm không bảo đảm. Ông Nam đã nói đến ngân hàng. Ông Nam cũng nói đến lao động, tức là liên quan đến cả Bộ Nội vụ. Một vài doanh nghiệp bắt đầu nhập khẩu lao động Bangladesh vào nước ta. Đất nước ta vốn chỉ xuất khẩu lao động nhưng bây giờ đã nhập khẩu lao động về bởi vì lao động của ta bắt đầu khan hiếm và giá cao. Như vậy có thể có cả chuyện của Bộ Nội vụ về nhập khẩu lao động. Tôi nghĩ rằng rõ ràng ở đây, cần kết vào một chuỗi và phải có người có đủ thẩm quyền để điều hành chuỗi đó và tổ chức thực hiện. 

Trong bối cảnh hiện nay, tăng trưởng xuất khẩu không thể chỉ dựa vào sản lượng mà phải dựa trên giá trị gia tăng, sự phát triển bền vững, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu quốc gia gắn với thực hiện tốt vấn đề về kiểm định, truy xuất nguồn gốc hàng hóa để chinh phục những phân khúc thị trường "khó tính" như Mỹ, Nhật Bản hay EU.

Theo ông Tô Nguyễn Thành, những giải pháp về công nghệ nào chúng ta cần ứng dụng, triển khai để hỗ trợ cho sản xuất, chế biến, nuôi trồng, thu hoạch, xuất khẩu? Cả hệ sinh thái về khoa học công nghệ cần làm gì, bắt đầu từ đâu? Các bộ, ngành, địa phương doanh nghiệp, người dân cần làm gì? Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Những vấn đề đặt ra trong ứng dụng khoa học công nghệ, truy xuất nguồn gốc hàng hóa xuất khẩu đặt ra hiện nay ra sao? Các bộ, ngành, địa phương cần có sự chung tay, vào cuộc như thế nào?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 4.

Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Ông Tô Nguyễn Thành: Trong bối cảnh hiện nay, những tiêu chuẩn các nước đặt ra rất khác, và ngày càng khắt khe hơn. Do vậy, việc đáp ứng của chúng ta hiện tại không chỉ về mặt sản phẩm là gì. Mình phải trả lời thêm những câu hỏi khác, ví dụ sản phẩm đến từ đâu, sản xuất thế nào, quy trình sản xuất ra sao, và quy trình chăm bón cũng như quy trình sản xuất từ nguyên liệu đến sơ chế, chế biến ra đến thị trường như thế nào. Vấn đề đặt ra là bán một sản phẩm phải kèm theo hồ sơ dữ liệu của sản phẩm đó là gì. Để có dữ liệu này, đầu tiên chúng ta phải số hoá dữ liệu ban đầu, ví dụ như dữ liệu vườn trồng, dữ liệu nhật ký chăm sóc của bà con nông dân, đến dữ liệu vận chuyển, cơ sở đóng gói, quy trình sản xuất… Tất cả những dữ liệu này phải được số hoá từ. Khi số hoá xong, các dữ liệu này phải xâu chuỗi với nhau. Các ứng dụng liên quan đến truy xuất nguồn gốc cũng như quản lý dây chuyền sản xuất, chuỗi cung ứng sẽ phải đưa vào để liên kết dữ liệu với nhau. Vùng trồng thì người nông dân họ làm gì, sản xuất chăm bón như thế nào. Sau đó lên hệ thống genetic về cơ sở chế biến như thế nào. Trong cơ sở chế biến đó họ làm những công đoạn nào, quy trình ra sao, có đảm bảo chuẩn hay không. Sau khi chế biến, sơ chế xong sẽ đến khâu kiểm nghiệm, có đạt tiêu chuẩn không, những mẫu kiểm nghiệm như thế nào. Ra đến cửa khẩu thì thủ tục như CO, kiểm dịch, tờ khai hải quan… Tất cả những dữ liệu đó phải xâu chuỗi lại, dựa trên một hệ thống là xương sống quản lý chuỗi cung ứng. Toàn bộ những điều đó sẽ cần nền tảng công nghệ để đáp ứng việc đó.

Vừa rồi ông Bình cũng chia sẻ về sự phối hợp giữa các nước, ví dụ như Trung Quốc về hải quan thông minh. Để làm hải quan thông minh, cần phải có dữ liệu, và dữ liệu này phải có sự liên kết với nhau, phải có định danh cho nó. Vừa rồi chúng tôi cũng triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc cho sầu riêng. Chúng tôi cũng đi rất sát với Hội Nông dân, đến cả doanh nghiệp, và theo container hàng đến tận cửa khẩu. Toàn bộ đều đưa vào quy trình kiểm soát.

Còn kiểm soát về mặt chất lượng, chúng tôi đã đồng hành và đưa vào quy trình kiểm soát về chất lượng từ vườn trồng, các hộ nông dân cần làm gì để đảm bảo về chất lượng, đầy đủ tiêu chuẩn xuất khẩu; xưởng sản xuất cần làm gì, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ra sao. Tất cả những dữ liệu đó được đưa vào hệ thống truy xuất nguồn gốc, và dữ liệu được gắn kết vào định danh.

Có 3 định danh. Thứ nhất là định danh liên quan đến từng quả sầu riêng, mỗi quả sầu riêng đều có hồ sơ sản xuất, nguồn gốc quả sầu riêng đó như thế nào, từ đâu đến, từ vườn trồng nào, quy trình sản xuất của vườn trồng đó ra sao. Thứ hai là định danh từng thùng hàng chứa sầu riêng. Cuối cùng là định danh đến container xuất khẩu. Định danh cuối cùng của container sẽ chứa tất cả dữ liệu sản phẩm, từng sản phẩm nhỏ và hồ sơ liên quan đến toàn bộ phần kiểm nghiệm cũng như xuất khẩu, đều được gắn vào một mã định danh của container. Để có mã định danh này, chúng tôi phải đi xuyên suốt cả một quá trình như vậy, và cũng là tiền đề để chúng ta triển khai hệ thống hải quan thông minh với nước bạn. Đến hệ thống hải quan của nước bạn chỉ cần truy xuất tem định danh của container là toàn bộ thông tin sản phẩm bao gồm quy trình sản xuất, chế biến và tất cả hồ sơ liên quan đến kiểm nghiệm, hồ sơ thông quan xuất khẩu đều thể hiện trên hệ thống đó. Việc này sẽ rút ngắn được thời gian liên quan từ khâu thu hái đến sản xuất, sơ chế, đóng gói. Thời gian thu ngắn lại thì vòng quay của sản phẩm sẽ tăng lên, là tiền đề rất lớn để chúng ta thực hiện rất nhiều chiến lược vĩ mô cũng như tăng hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp. Đấy là những ứng dụng thực tế mà chúng tôi đã triển khai.

Với ứng dụng đó, việc triển khai cụ thể sẽ như thế nào? Xin chia sẻ phải triển khai ở doanh nghiệp và hộ nông dân, bản thân địa phương cũng cần số hoá, đưa dữ liệu vào khâu quản lý của mình. Ví dụ như số hoá dữ liệu về mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói, từng hộ dân trong mã vùng trồng như thế nào, định danh liên quan đến vị trí vườn như thế nào. Nó là nền tảng có thể kiểm soát được trong vùng trồng đó hộ nông dân là ai, vị trí của họ, và dựa vào đó có thể gắn kết được dữ liệu liên quan đến nhật ký chăm bón từng vùng trồng, từng vườn trồng. Đó là tiền đề để có thể triển khai tiếp tục toàn bộ chuỗi tiếp theo, ví dụ nông dân, doanh nghiệp xuất khẩu và những dữ liệu khác.

Chung quy mấu chốt là dữ liệu, thứ hai là liên kết toàn bộ chuỗi dữ liệu lại với nhau, thứ ba là phải có sự liên thông dữ liệu, không chỉ phía nông dân, doanh nghiệp mà ở cả phía cơ quan quản lý. Ví dụ như liên thông dữ liệu về sản xuất rồi, còn cần liên thông về dữ liệu kiểm nghiệm, số hoá dữ liệu kiểm nghiệm; liên thông về các hồ sơ xuất khẩu như tờ khai CO, kiểm dịch. Tất cả hồ sơ ấy hiện tại đang trên bản .pdf, số hoá cơ bản. Nếu có sự liên thông của các cơ quan với nhau thì toàn bộ dữ liệu sẽ được tự động gắn kết vào thành chuỗi, như vậy thời gian còn được rút ngắn nữa.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Qua ý kiến của ông Thành, một thông điệp rất rõ ràng. Chúng ta làm kinh tế nông nghiệp có nghĩa là quản trị dữ liệu từ đầu đến cuối, và quản trị dữ liệu là một phần cấu thành kinh tế nông nghiệp. Quản trị dữ liệu phải là một phần năng lực của cả chuỗi đó. Như vậy có một ý chúng ta cần quan tâm. Bây giờ chúng ta phân cấp, phân quyền cho địa phương rất nhiều, năng lực quản trị dữ liệu trong việc xác thực, kiểm nghiệm của địa phương rất quan trọng. Chúng ta muốn đạt 100 tỷ nhưng có thể tắc ở địa phương nếu không đủ năng lực, do đó càng cần một người điều hành chuỗi giá trị. Vấn đề dữ liệu bây giờ là vấn đề rất kỹ trị, phải phân công người, phải hướng dẫn, không thể nói chung chung được, đó là vấn đề rất cụ thể, cần phải có năng lực chuyên môn để làm.

Theo ông Âu Anh Tuấn, chúng ta cần ứng dụng khoa học công nghệ như thế nào để thông quan nhanh nhất, hàng hóa nông, lâm, thủy sản của nước ta có thể xuất khẩu được dễ dàng và thuận lợi nhất, các thủ tục nhập khẩu nguyên phụ liệu, giống, vật tư phục vụ sản xuất… được tiến hành dễ dàng nhất? Các liên thông với hải quan các nước bạn được tiến hành thế nào, còn phải xử lý những gì để hàng hóa qua lại dễ dàng nhất? Ông có kiến nghị gì? Bên cạnh đó, theo ông khâu nào trong quy trình thông quan hiện nay có thể rút ngắn nhiều nhất qua hoạt động chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 5.

Ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính) - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Ông Âu Anh Tuấn: Việc áp dụng khoa học công nghệ cũng như chuyển đổi số đóng vai trò rất quan trọng trong chuỗi sản xuất cũng như xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp. Việc chuyển đổi số này, theo đánh giá của hải quan, không chỉ giúp thông quan nhanh hơn mà còn giúp quản trị hiệu quả hơn.

Dưới góc độ của hải quan, khi dữ liệu được kết nối đầy đủ giữa cơ quan hải quan trong nước và đối tác quốc tế thì doanh nghiệp sẽ giảm được các chi phí tuân thủ, còn cơ quan quản lý vẫn có đầy đủ dữ liệu để kiểm soát chặt chẽ, minh bạch cũng như phòng chống gian lận và buôn lậu.

Đối với nông sản xuất khẩu, đặc biệt là nông sản được sản xuất thuần túy ở trong nước, ví dụ như hoa quả hoặc sầu riêng gần đây, chuỗi sản xuất, như ông Thành đã đề cập, bao gồm từ con giống, sản xuất, thu hoạch, ghi nhật ký trong toàn bộ quá trình sản xuất, tiếp đến thu hoạch, chế biến, đóng gói, xuất khẩu, và cuối cùng là hải quan thực hiện thủ tục thông quan. Tuy nhiên, một số ngành hàng, ví dụ như thủy sản, đại diện VASEP đã chia sẻ rằng kim ngạch xuất khẩu tăng, nguồn nguyên liệu trong nước không đáp ứng được, phải nhập khẩu rất nhiều từ nước ngoài. Rồi một mặt hàng là hạt điều. Chúng ta nhập rất nhiều điều từ châu Phi, từ Campuchia. Do vậy, chúng ta không chỉ đơn giản hóa các thủ tục ở trong nước mà còn đơn giản hóa cả các thủ tục ở khâu nhập khẩu nguyên liệu để hình thành nguồn nguyên liệu đủ cung ứng, đáp ứng nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.

Do vậy, trước khi áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động xuất nhập khẩu, việc đầu tiên là phải rà soát để đơn giản hóa, chuẩn hóa, cũng như cắt giảm các thủ tục không cần thiết trong các khâu. Cơ quan hải quan đang rà soát lại toàn bộ các quy định, đặc biệt liên quan đến việc kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch y tế, kiểm tra an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu cũng như xuất khẩu. Chúng tôi nhận thấy rằng nếu không đơn giản hóa sẽ phát sinh rất nhiều thủ tục, chi phí tuân thủ và thời gian cho doanh nghiệp.

Ví dụ, để nhập khẩu một sản phẩm thực vật làm nguyên liệu sản xuất thì doanh nghiệp phải trải qua nhiều công đoạn. Đối với những sản phẩm thực vật thuộc đối tượng phải phân tích nguy cơ, trước khi nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy phép kiểm dịch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Sau khi có giấy phép, khi sản phẩm nhập khẩu, doanh nghiệp lại phải đăng ký, khai báo kiểm dịch với cơ quan kiểm dịch tại cửa khẩu. Sau đó mới làm thủ tục nhập khẩu với hải quan. Như vậy, quy trình này trải qua rất nhiều bước.

Đối với sản phẩm động vật, tất cả đều phải có văn bản chấp thuận của Cục Thú y và Chăn nuôi theo quy định của pháp luật trước khi nhập khẩu. Khi nhập khẩu là phải khai báo. Quy trình này có rất nhiều bước khác nhau. Ví dụ, về kiểm dịch y tế, đối với người thì chỉ khi có dịch bệnh mới khai báo, nhưng đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa, trong mọi trường hợp nhập khẩu qua biên giới đều phải khai báo y tế, kể cả không có dịch. Điều này phát sinh thêm một thủ tục hành chính. Do vậy, chúng ta cần rà soát, đơn giản hóa và cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết trước khi áp dụng việc số hóa quy trình cũng như số hóa toàn bộ hồ sơ, chứng từ.

Về phía hải quan, chúng tôi đang áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động thông quan. Hiện tại, chúng tôi thực hiện số hóa toàn bộ hồ sơ hải quan, nghĩa là không phát sinh hồ sơ giấy. Việc số hóa hồ sơ sẽ dẫn đến quy trình được tự động hóa trong việc kiểm tra, tự động đối chiếu giữa các hồ sơ với nội dung khai báo của doanh nghiệp để phát hiện những chỗ không phù hợp hoặc cảnh báo cho công chức hải quan khi thực hiện thủ tục. Ngoài ra, chúng tôi áp dụng các nguyên tắc quản lý rủi ro vào tất cả các khâu trong quá trình thông quan. Đối với hàng nông sản xuất khẩu, gần như hiện nay toàn bộ là luồng xanh. Rất ít lô hàng rơi vào luồng vàng và luồng đỏ. Về cơ bản, thủ tục thông quan diễn ra rất nhanh.

Tuy nhiên, để thực hiện thủ tục thông quan nhanh như vậy thì các khâu bên trong, từ kiểm nghiệm, kiểm dịch…, phải đảm bảo nhanh nhất. Việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cũng phải đảm bảo lô hàng đến cửa khẩu có đầy đủ chứng từ và chỉ thực hiện thủ tục xuất khẩu. Đối với kiểm dịch hiện nay, theo quy định của pháp luật về kiểm dịch, hàng hóa xuất khẩu chỉ kiểm dịch khi có yêu cầu của nước nhập khẩu, còn lại không bắt buộc phải kiểm dịch xuất khẩu. Hàng nhập khẩu thì yêu cầu phải kiểm dịch để đảm bảo môi trường trong nước.

Do vậy, theo tôi, cũng cần phải áp dụng các công nghệ cũng như số hóa tất cả các quy trình và tất cả dữ liệu trong suốt chuỗi đó để phục vụ việc truy xuất nguồn gốc cũng như đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu khi có yêu cầu kiểm tra. Hôm qua, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã họp liên quan đến việc đơn giản hóa các thủ tục về cấp mã số vùng trồng, cấp mã số cơ sở đóng gói cũng như các thủ tục khác để phê duyệt trước khi xuất khẩu sản phẩm, theo hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giao quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm cho người nông dân khi khai báo, còn cơ quan nhà nước sẽ thực hiện hậu kiểm. Việc này phải thực hiện trên môi trường số chứ không thể thực hiện với các hồ sơ thủ công và giấy như hiện nay gây kéo dài thời gian.

Như các vị đã đề cập, nông sản yêu cầu thủ tục phải rất nhanh chóng do có mùa vụ và thời gian bảo quản rất ngắn. Nếu để lâu, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Do vậy, việc áp dụng số hóa là cần thiết. Đối với hải quan, chúng tôi cam kết đảm bảo thông quan nhanh 24/7. Kể cả ngoài giờ làm việc, ngày nghỉ, ngày lễ, chúng tôi đều bố trí cán bộ công chức thực hiện các thủ tục thông quan cho hàng hóa.

Ngoài ra, việc xuất khẩu này còn liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ với các nước nhập khẩu trong việc phối hợp, trao đổi thông tin và dữ liệu để thực hiện thủ tục nhanh nhất. Phía Hải quan Việt Nam đang đàm phán với Hải quan Trung Quốc và một số quốc gia khác. Thứ nhất là các thủ tục về công nhận kết quả kiểm tra lẫn nhau. Để khi bên này kiểm tra rồi thì bên kia không thực hiện kiểm tra nữa, như vậy mới nhanh được. Nếu không, bên kia lại thực hiện kiểm tra lại, có thể dẫn đến việc lô hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu phải kiểm tra hai lần.

Thứ hai, xây dựng mô hình trao đổi thông tin giữa hải quan hai nước về thông tin tờ khai, chứng từ kiểm dịch động vật, thực vật và các chứng từ khác để chúng ta có dữ liệu và có thể chấp nhận kết quả để thực hiện thông quan nhanh. Ngoài ra, hiện tại đối với phía Trung Quốc, chúng tôi đang xây dựng mô hình cửa khẩu số, cửa khẩu thông minh trên các tuyến biên giới, trên cơ sở cam kết của lãnh đạo cấp cao hai nước. Hiện tại, Hải quan Việt Nam đang đàm phán với Hải quan Trung Quốc trong việc kết nối và trao đổi dữ liệu thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Tất nhiên, để làm được việc này, cần có sự kết nối giữa các bộ ngành với nhau vì hải quan chỉ là khâu cuối cùng. Toàn bộ các dữ liệu liên quan đến vùng trồng, cơ sở đóng gói, cơ sở kiểm nghiệm, và việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ của cả Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương. Để có dữ liệu trao đổi, các cơ sở dữ liệu này phải có liên kết và kết nối với nhau. Sau đó, Hải quan sẽ là đầu mối cuối cùng trao đổi với phía nước ngoài, cụ thể là phía Trung Quốc.

Ngoài ra, để đảm bảo việc công nhận kết quả kiểm tra lẫn nhau, chúng ta phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn. Đối với sản phẩm, hàng hóa, phải tương ứng với tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế và phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Thứ hai, tiêu chuẩn của phòng kiểm nghiệm, thử nghiệm Việt Nam cũng phải đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu thì họ mới công nhận kết quả của chúng ta. Do vậy, nếu được công nhận, sẽ giảm được tỉ lệ lô hàng phải kiểm tra tại nước nhập khẩu và thời gian thông quan sẽ nhanh hơn.

Đơn cử, chúng ta thấy sầu riêng Thái Lan xuất khẩu sang Trung Quốc có tỉ lệ kiểm tra rất thấp. Trong khi đó, sầu riêng Việt Nam xuất sang Trung Quốc có tỉ lệ kiểm tra khá cao, gần như lô hàng nào cũng phải kiểm tra hàm lượng cadimi và dư lượng kim loại nặng trên sản phẩm. Việc này kéo dài thời gian thông quan và giảm sức cạnh tranh. Sản phẩm chậm một ngày đưa ra thị trường, chất lượng chắc chắn sẽ giảm. Do vậy, cần sự phối hợp của các bộ, ngành Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyền của các nước nhập khẩu để đẩy nhanh thời gian thực hiện thủ tục thông quan. Ngành Hải quan cũng sẽ áp dụng các công nghệ hiện đại nhất, đặc biệt là chuyển đổi số, vào các quy trình thủ tục hải quan để giảm thiểu thời gian và chi phí tuân thủ cho cộng đồng doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Sỹ Dũng: Như vậy, ngành Hải quan của chúng ta đang cải tiến rất mạnh để nâng cao khả năng thông quan, đồng thời trợ giúp xuất khẩu nông sản. Nhưng ông Âu Anh Tuấn cũng khẳng định có nhiều thủ tục vẫn cần tiếp tục hoàn thiện và cắt giảm nếu thấy cần thiết. Đặc biệt, ông Tuấn nhấn mạnh việc công nhận kết quả của các đối tác. Đó là điều rất quan trọng. Điều đó có lẽ là cả một quá trình, đòi hỏi sự chỉ đạo và đồng bộ hóa các tiêu chuẩn. Nếu chúng ta công nhận kết quả của đối tác, không phải kiểm nghiệm lại, thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều. 

Trong hội nhập, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các nước gia tăng hoạt động bảo hộ hàng hóa trong nước, lập nên các hàng rào kỹ thuật, đưa ra các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu.

Thưa ông Tô Nguyễn Thành, đây có phải là những vấn đề lớn mà chúng ta cần phải đặc biệt lưu ý, ở góc độ chuyên môn, kỹ thuật, những giải pháp được đề ra để tập trung xử lý, ứng phó là gì và với xu thế phát triển hiện nay, AI, khoa học công nghệ sẽ hỗ trợ, mang lại hiệu quả như thế nào cho hoạt động xuất khẩu?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 6.

Ông Tô Nguyễn Thành (trái) chia sẻ, trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Ông Tô Nguyễn Thành: Theo đánh giá, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng trong giai đoạn hiện nay là một thách thức lớn. Tuy nhiên, đây không phải là rào cản mà cần được nhìn nhận như một động lực để phát triển. Chính những yêu cầu và tiêu chuẩn ngày càng cao từ thị trường sẽ thúc đẩy chúng ta điều chỉnh, nâng cao năng lực nội tại để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu đó. Đây cũng là cơ hội để hoàn thiện và nâng cao sức cạnh tranh của ngành hàng.

Về các giải pháp cần triển khai, như tôi đã chia sẻ trước đó, trọng tâm vẫn là dữ liệu và liên kết dữ liệu. Dữ liệu là yếu tố then chốt, bắt đầu từ việc số hóa ngay từ gốc. Sau đó, các dữ liệu cần được kết nối thành chuỗi, liên thông giữa các hệ thống và tập trung vào các kho dữ liệu lớn. Khi có nền tảng dữ liệu đầy đủ và đồng bộ, chúng ta mới có cơ sở để thực hiện các dự báo, phân tích và hỗ trợ điều hành ở tầm vĩ mô.

Trong đó, AI chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được vận hành trên nền tảng dữ liệu lớn. Nếu không có dữ liệu, AI sẽ không thể tạo ra giá trị thực chất.

Do đó, có thể khái quát một số nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, đẩy mạnh số hóa từ vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất và toàn bộ dữ liệu liên quan của các bộ, ngành trong suốt quá trình sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Thứ hai, xây dựng các hệ thống truy xuất nguồn gốc để kết nối dữ liệu trong toàn chuỗi.

Thứ ba, tăng cường liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành, đồng thời tập trung dữ liệu vào các hệ thống dữ liệu lớn.

Trên cơ sở đó, có thể phát triển các hệ thống AI phục vụ cảnh báo, dự báo và hỗ trợ điều hành vĩ mô. Đây cũng chính là cách khoa học công nghệ và AI có thể hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong thời gian tới.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Xin cảm ơn ông Thành. Tôi xin hỏi câu tiếp theo dành cho ông Sơn. Để phát triển nông nghiệp bền vững, mở rộng thị trường xuất khẩu, chúng ta cần phải làm gì? Để có những giải pháp đồng bộ mang tính chiến lược, chúng ta cần sự phối hợp như thế nào giữa Nhà nước, các cơ quan chức năng, doanh nghiệp, các nhà khoa học, các hiệp hội ngành nghề và người sản xuất để có thể thúc đẩy phát triển và đạt mục tiêu mà xuất khẩu 100 tỷ và cao hơn trong dài hạn?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 7.

Ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Ông Đặng Kim Sơn: Vừa nãy ông Thành nói rất nhiều và rất đúng về sự liên kết nền tảng của số hóa trong sản xuất hiện đại và kinh doanh, trong thông quan hiện đại. Ông Âu Anh Tuấn cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ, rồi sự phối hợp các bên. Thế thì rốt cục là số hóa, khoa học công nghệ, giảm bớt thủ tục, ai sẽ làm? Quay đi quay lại vẫn chủ yếu phải là người sản xuất, người kinh doanh và người quản lý.

Chúng ta đều nói đến các ngành hàng, các sản phẩm chiến lược, và đây là những thể thống nhất với nhau. Cho nên đầu tiên, trong việc bố trí sản xuất nông nghiệp, chúng ta đang đứng trước tình hình là có lẽ đến lúc chúng ta phải rà soát lại các quy hoạch, tổ chức lại chiến lược các ngành hàng trong điều kiện thay đổi rất nhiều trên thế giới và trong nước hiện nay của cách mạng khoa học công nghệ, chuyển từ hệ thống quản lý trước đây sang quản lý hai cấp, rồi các biến động về địa chính trị thế giới, thay đổi về công nghệ, nhất là công nghệ số hóa... Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi.

Tôi nghĩ hiện nay phải tổ chức lại các vùng sản xuất của chúng ta thành các vùng chuyên canh rất lớn mà về không gian, cái lõi phải là khoa học công nghệ. Các viện, các trường phải gắn với nhau, xung quanh đó là các khu nông nghiệp công nghệ cao, rồi các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, các hợp tác xã liên kết lại. Các vùng chuyên canh này phải kết nối với nhau, trung tâm là các khu công nghiệp chế biến và chế biến sâu. Toàn bộ hệ thống đó phải kết nối bằng hệ thống giao thông vận tải, logistics để đến các cửa khẩu, các cảng, các bến tàu lớn, nối vào các trục đường biển, đường sắt và đường không, đường bộ chúng ta đang xây dựng hiện nay. Không gian này phải bố trí lại.

Đằng sau tất cả những nền tảng không gian đó là sự bố trí lại, sắp xếp lại về tổ chức. Chuỗi giá trị bây giờ phải được tổ chức một cách rất thiết thực, tức là bây giờ chúng ta phải phát triển nền kinh tế nông nghiệp, chứ không phải ngành sản xuất nông nghiệp nữa. Thế thì công nghiệp chế biến sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng. Chế biến sâu thậm chí là sản xuất tuần hoàn nữa. Từ đầu vào vật tư phân bón đến nguyên liệu đầu vào nhập khẩu và sản xuất trong nước, cho đến toàn bộ quá trình sản xuất, quá trình sơ chế, chế biến sâu, kho tàng bến bãi rồi đưa ra logistics và vận chuyển, toàn bộ hệ thống như thế, gồm người sản xuất, người kinh doanh, người chế biến, người cung cấp dịch vụ, người quản lý, phải gắn chặt với nhau.

Ở các nước khác họ có những hình thức tổ chức rất mạnh, ví dụ như Hội đồng ngành hàng. Trong Hội đồng ngành hàng có cả lãnh đạo các bộ ngành, lãnh đạo của địa phương, lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo của nông dân, cùng ngồi với nhau quyết định về chiến lược, quy hoạch, đầu tư, xuất nhập khẩu và bàn bạc với nhau các chính sách đưa ra, rồi đánh giá cùng nhau. Đúng như TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhắc đi nhắc lại, chúng ta phải có một tổ chức rất mạnh trong đó có lãnh đạo Chính phủ tham gia. Tôi nghĩ mô hình Hội đồng ngành hàng sẽ là một mô hình rất tốt để chúng ta tham khảo. Trong đó rõ ràng là lãnh đạo Chính phủ phải đóng vai trò dẫn dắt và gọi là "nhạc trưởng". Khi chúng ta đã có được tổ chức như thế rồi thì nền tảng về số hóa, khoa học công nghệ sẽ xuất hiện. Nhưng điều quan trọng về dài hạn là không thể giải quyết bằng mệnh lệnh hành chính được. Về dài hạn, chúng ta phải có những cơ chế để tất cả các thành viên trong chuỗi giá trị đó chia sẻ với nhau cả về rủi ro, cả về quyền lợi, lợi ích. Và không chỉ người sản xuất kinh doanh được hưởng lợi, mà các cán bộ Nhà nước cũng phải được thưởng phạt gắn liền với hiệu quả cuối cùng của chuỗi ngành hàng. Như thế thì mục tiêu 100 tỷ không phải chỉ là mục tiêu chính trị, mà là một mục tiêu kinh tế, là động lực của mỗi người. Bên cạnh lòng yêu nước, khát vọng xây dựng kỷ nguyên mới của dân tộc chính là lợi ích của mỗi người. Nếu chúng ta xây dựng được như thế, tạo được cả hệ thống tổ chức, tạo được cả không gian bố trí, xây dựng được cả cơ chế làm việc như thế, thì nền tảng số, nền tảng khoa học công nghệ sẽ chạy. Đó là định hướng mà tôi muốn đề xuất.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Như ông Sơn nói, chúng ta có thể thấy đó là một chuỗi, chuỗi giá trị của kinh tế nông nghiệp và nó phải gắn kết với nhau, có lợi ích, có động lực, có cấu trúc khuyến khích, phù hợp để tất cả các thành viên tham gia thì đều có sự khuyến khích để làm tốt hơn. Đó là những vấn đề liên quan đến thể chế nữa. Liên quan đến thể chế, trước đây, chúng ta có Tổ thúc đẩy để giải quyết các điểm nghẽn, chẳng hạn như Tổ tháo gỡ điểm nghẽn trong bất động sản. Bây giờ nếu để thúc đẩy xuất khẩu đạt 100 tỷ năm 2027, các khách mời suy nghĩ như thế nào về chuyện cần một Tổ công tác tương tự như vậy? Trước tiên xin được nghe ý kiến của ông Nam!

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 8.

Các đại biểu trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Ông Nguyễn Hoài Nam: Về cách thức vận hành, tôi nghĩ rằng đây là một ngành ngành kinh tế rộng, liên quan đến rất nhiều chủ thể. Cho nên cần phải có một ban chỉ đạo, bởi vì khối lượng công việc rất lớn, trong đó có những việc rất mới, có những việc phải thay đổi, sửa đổi cũ. Trong thực tế hiện nay, bao giờ cũng vậy, nghiên cứu xem xét để thay đổi cũ lại đưa cho chính người đã thiết kế ngày xưa, nên nhiều khi sẽ chiếm lĩnh một khoảng thời gian hoặc cách làm có thể không đạt được mục tiêu. Bởi vậy phải có công tác điều phối. Cho nên tôi nghĩ cần có ban chỉ đạo, quan trọng nhất ở đó là một tổ thường trực sẽ bám sát mục tiêu, huy động mọi nguồn lực tham gia vào công việc lớn một cách có kế hoạch. Tôi hoàn toàn đồng ý và rất mong muốn sớm có hình thức, mô hình đó.

Ông Nguyễn Thanh Bình: Tôi cũng nhất trí là nên có một tổ điều hành cao nhất, có thể điều phối và có quyền quyết định, giải quyết những vấn đề tạo ra sự thay đổi đột phá. Hiện nay chúng ta đang vận hành như thế này: Tất cả các cơ quan, bộ máy đều đã có sẵn nhưng vẫn chưa tạo ra được sự đột phá. Nếu muốn có sự đột phá thì phải có thay đổi về mặt tổ chức nào đó. Cho nên việc hình thành lên một tổ điều hành tôi hoàn toàn nhất trí. Tôi cũng nghĩ rằng tổ điều hành này phải mang tầm vóc của Chính phủ, của quốc gia chứ không phải chỉ ở tầm các bộ. Việc điều hành các bộ, các ngành phải thuộc về Chính phủ. Chính phủ liên kết điều hành thì mới hiệu quả và triệt để. Do đó tôi nhất trí là nên có một tổ điều hành cấp cao. Còn việc phân công thế nào thì tổ điều hành đó sẽ quyết định.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Một cơ chế như vậy chúng ta gọi là tổ điều hành hay ban chỉ đạo để chuyên trách đạt mục tiêu? Có lẽ tổ điều hành đã có rất nhiều rồi, ban chỉ đạo cũng vậy, nhưng ban chỉ đạo thì ở tầm vĩ mô hơn, còn tổ điều hành thì đi vào những việc cụ thể. Có lẽ tên gọi "tổ điều hành" là hợp lý. Nhưng những thách thức của tổ điều hành là gì, phải làm như thế nào để đạt yêu cầu, xin được nghe ý kiến ông Thành?

TỔNG THUẬT Tọa đàm 'Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?'- Ảnh 9.

Các đại biểu trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Giang Thanh

Ông Tô Nguyễn Thành: Theo ý kiến của tôi, tổ điều hành như ý kiến của ông Bình là rất phù hợp. Tổ điều hành ở đây không phải ở cấp bộ mà phải ở cấp Chính phủ. Vì bài toán xuất khẩu nông sản không phải là bài toán đơn lẻ của một bộ ngành nào đó, mà là bài toán liên ngành, xuyên suốt chuỗi xuất khẩu, đi từ nông nghiệp đến công thương, hải quan và các bộ ngành liên quan. Do vậy, nếu chỉ ở cấp bộ thì việc phối hợp với nhau sẽ có những hạn chế nhất định. Cần phải có một góc nhìn mang tính chất tổng quan hơn, xuyên suốt hơn; tức là đi từ đầu nguồn ra đến cửa khẩu, đi qua những bộ ngành nào, cơ quan nào thì phải có những điểm tháo gỡ ngay tại thời điểm đó. Lúc ấy con đường xuất khẩu mới liên thông, và ngay cả việc dữ liệu hóa cũng như điện tử hóa toàn trình trong quá trình xuất khẩu mới thực thi được.

Trong quá trình triển khai các hệ thống công nghệ, điểm khó nhất là khi bước từ cơ quan này sang cơ quan khác làm sao để phối hợp và dữ liệu liên thông được với nhau. Do vậy, tổ điều hành phải có mục tiêu nhất định và phải có đủ thẩm quyền để xử lý nhanh, xử lý ngay lập tức những điểm nghẽn khi các quy trình xuất khẩu đi qua từng cơ quan.

Ông Âu Anh Tuấn: Như vừa rồi các khách mời đã phân tích, đối với hoạt động xuất nhập khẩu nói chung liên quan đến rất nhiều bộ ngành, chính sách của các bộ rất nhiều; hải quan chỉ là khâu cuối cùng khi thực thi. Xuất khẩu nông sản cũng thế. Liên quan đến quá trình tham gia vào một chuỗi thì bao gồm rất nhiều bên. Ví dụ, đối với nhập khẩu và xuất khẩu mặt hàng nông - lâm - thủy hải sản thì liên quan đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ khâu kiểm dịch, giống, theo dõi quá trình, rồi đến đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch xuất khẩu. Một số sản phẩm nông nghiệp đồng thời là thực phẩm thì liên quan cả các bộ: Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường. Cuối cùng để xuất khẩu được thì phải chứng nhận nguồn gốc, lại liên quan đến Bộ Công Thương, và khâu cuối cùng là Hải quan.

Kinh nghiệm khi chúng tôi triển khai cơ chế một cửa ASEAN, một cửa quốc gia là phải có một cơ chế phối hợp liên ngành và phải có lãnh đạo cấp cao của Chính phủ điều phối việc này. Nếu không, cơ chế bị cắt khúc từng khâu một, không có sự liên kết dữ liệu và thủ tục với nhau thì sẽ kéo dài thời gian. Do vậy, cần thiết phải có một tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, tên gọi có thể là tổ điều hành hay tổ công tác, để giải quyết các vướng mắc, khó khăn, tháo gỡ về chính sách thì mới làm được.

Ví dụ kinh nghiệm Hải quan Trung Quốc, họ là một đầu mối thực hiện tất cả các thủ tục về kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra tại cửa khẩu. Nghĩa là khi doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng, họ chỉ liên hệ với một cơ quan duy nhất là Hải quan và thông qua một hệ thống. Còn nếu ở Việt Nam hiện nay, muốn nhập khẩu một mặt hàng thì phải liên hệ rất nhiều cơ quan tại cửa khẩu: Liên hệ Bộ Nông nghiệp và Môi trườngvề kiểm dịch động, thực vật; liên hệ Bộ Y tế, Bộ Công Thương về an toàn thực phẩm; liên hệ Bộ Công Thương về cấp C/O; tóm lại có khoảng 6-7 bộ liên quan đến kiểm tra chất lượng. Nếu mô hình này còn duy trì thì rõ ràng sẽ gây kéo dài thời gian, chi phí và tăng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Do vậy, phải có sự chỉ đạo rất quyết liệt của cCính phủ, nhất thiết phải có một tổ do lãnh đạo Chính phủ làm tổ trưởng thì mới điều phối và xử lý được. Đúng như các khách mời nói, nếu giao cho chính các bộ ngành đó sửa thì rất khó, phải có người khác nhìn vào, đánh giá và đề xuất sửa, cùng cộng đồng doanh nghiệp và các đơn vị liên quan thì mới thay đổi được quy trình, thủ tục thuộc phạm vi trách nhiệm của các bộ.

Ông Đặng Kim Sơn: Ý kiến của các khách mời đưa ra rất hay và tôi hoàn toàn nhất trí. Đây là một hoạt động liên ngành, thậm chí mang tính chất ngoại giao với các nước khác nữa, cho nên vai trò nhạc trưởng ở đây phải là Chính phủ, một người lãnh đạo của Chính phủ tham gia vào đây. Ngoài ra chúng ta còn liên địa phương, liên vùng nữa.

Điều tôi muốn nói thêm là một trong những nhân tố quan trọng nhất của hoạt động này chính là người nông dân, đặc biệt là doanh nhân và các hiệp hội. Từ trước đến nay, cách làm việc của các tổ công tác là làm việc chặt chẽ, trao đổi, xin ý kiến, tìm hiểu tình hình khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp thông qua hiệp hội để tháo gỡ. Tôi hy vọng rằng trong tổ công tác này có sự hiện diện của đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp hoặc nông dân để trực tiếp góp ý, trao đổi luôn với tổ công tác.

Thứ hai là cộng tác bên dưới tổ công tác này phải là vai trò của các ngành hàng mang tính chiến lược của đất nước như lúa gạo, rau quả, thủy sản, đồ gỗ... Các hiệp hội đại diện đưa các doanh nghiệp đầu đàn vào, đưa các tỉnh đầu đàn vào phối hợp với nông dân. Phải có tiếng nói chủ động, trực tiếp góp ý làm việc với tổ công tác. Đó là "tay chân" của tổ công tác trong mục tiêu thực hiện nhiệm vụ này. Nếu làm được như thế, chúng ta có một bộ máy trên dưới đồng lòng, trong ngoài thống nhất, hành động sẽ rất hiệu quả.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Qua gần hai giờ đồng hồ, cuộc tọa đàm của chúng ta đã trao đổi về một vấn đề rất quan trọng: Khát vọng của đất nước phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2027 đạt 100 tỷ USD. Đây là một mục tiêu rất lớn.

Các ý kiến tại Tọa đàm đều cho rằng nếu có những giải pháp đột phá, chúng ta hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu này; chí ít cũng sẽ tiến rất sát. Đồng thời, trong trường hợp chưa đạt được, đó cũng sẽ là động lực để chúng ta tiếp tục cải cách và hoàn thiện.

Có một nội dung rất quan trọng, đó là chúng ta phải đổi mới tư duy, chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy vận hành một nền kinh tế nông nghiệp. Tất cả các khâu, từ khu vực công đến khu vực tư, từ người sản xuất, doanh nghiệp, người xuất khẩu đến các cơ quan chức năng cung cấp dịch vụ công, kiểm nghiệm, đều phải gắn kết thành một chuỗi. Chỉ cần một khâu bị đứt gãy sẽ ảnh hưởng ngay đến hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, nếu tất cả các mắt xích được kết nối chặt chẽ thì cả chuỗi sẽ vận hành vững mạnh.

Qua cuộc trao đổi hôm nay, có thể thấy rõ yêu cầu phải hình thành và kết nối chuỗi. Muốn làm được điều đó cần có một người đủ thẩm quyền để điều phối, bởi chuỗi này không chỉ liên quan đến người nông dân mà còn bao trùm tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, chế biến, xuất khẩu và cả các địa phương. Đặc biệt, trong bối cảnh chúng ta đẩy mạnh phân quyền cho địa phương, nếu địa phương không đủ năng lực xử lý các vấn đề phát sinh thì chuỗi sẽ rất dễ bị đứt gãy.

Vì vậy, hầu hết các ý kiến đều thống nhất cần thành lập một tổ công tác vì đây phải là một tổ hành động. Tổ này có nhiệm vụ xác định các điểm nghẽn, kết nối các mắt xích trong chuỗi và xử lý kịp thời những vướng mắc phát sinh. Ông Sơn cũng nêu một ý rất quan trọng mà tôi hoàn toàn đồng tình: Tổ công tác phải do người có thẩm quyền đứng đầu. Nhiều ý kiến cho rằng tổ này cần hoạt động ở cấp Chính phủ; tôi muốn nói cụ thể hơn là do một Phó Thủ tướng phụ trách. Đồng thời, tổ công tác cần có sự tham gia của đại diện các hiệp hội ngành hàng nông nghiệp - những người am hiểu thực tiễn và nắm rõ tình hình. Các thành viên của tổ cũng phải kết nối với hệ thống hiệp hội ở các cấp bên dưới để luôn bám sát thực tiễn và cảm nhận được những vấn đề của cuộc sống.

Tôi cho rằng đây có thể xem là một thiết chế nhằm thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng và đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD. Đồng thời, đây cũng sẽ là điểm khởi đầu cho một tư duy mới trong việc vận hành nền kinh tế nông nghiệp của chúng ta./.

TheoBáo Chính Phủ
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global