VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Chủ nhật, 28/06/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpThành công của trung tâm tài chính quốc tế được đo bằng gì?

Thành công của trung tâm tài chính quốc tế được đo bằng gì?

10:04:00 PM GMT+7Thứ 7, 27/06/2026

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh cho rằng, thành công của một trung tâm tài chính quốc tế giờ đây không chỉ được đo bằng quy mô dòng vốn hay giá trị giao dịch, mà bởi khả năng tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn.

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh, CFA, Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam.

Khi nhắc tới trung tâm tài chính quốc tế, hình dung phổ biến thường là những tòa nhà chọc trời, các sàn giao dịch nhộn nhịp và những dòng vốn khổng lồ dịch chuyển qua biên giới mỗi ngày. Từ London, New York đến Singapore, Hồng Kông hay Dubai, sự hình thành và phát triển của các trung tâm tài chính luôn gắn liền với quá trình vươn lên của các nền kinh tế, với khả năng thu hút nguồn lực, kết nối dòng vốn và tạo ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi quốc gia.

Thế nhưng, trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới, không phải trung tâm tài chính nào thu hút được nhiều dòng vốn cũng để lại những giá trị tương xứng cho nền kinh tế sở tại. Cũng không phải mọi bảng xếp hạng hay những con số giao dịch ấn tượng đều phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển của một trung tâm tài chính.

Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, câu hỏi về đích đến vì thế trở nên quan trọng không kém câu chuyện về lộ trình. Thành công của một trung tâm tài chính quốc tế nên được đo bằng những tiêu chí nào? Đâu là những thước đo phù hợp với xu thế phát triển mới của thế giới, đồng thời phản ánh được những giá trị mà trung tâm tài chính có thể mang lại cho nền kinh tế Việt Nam?

Để làm rõ những vấn đề này, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Thị Mỹ Linh, CFA, Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam.

Thành công không chỉ được đo bằng dòng vốn…

- Các quan điểm truyền thống thường đánh giá mức độ thành công của một trung tâm tài chính quốc tế thông qua các chỉ số như quy mô tài sản, dòng vốn lưu chuyển hay số lượng định chế tài chính hiện diện. Theo bà, những tiêu chí này đã đủ để phản ánh vị thế và chất lượng của một trung tâm tài chính quốc tế hay chưa?

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh: Thành công của một trung tâm tài chính quốc tế được đánh giá trên nhiều khía cạnh. Có những khía cạnh dễ đo lường như quy mô, vốn hóa thị trường nhưng cũng có khía cạnh khó đo lường như chất lượng nguồn nhân lực. Chưa kể, việc đánh giá còn phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa của từng quốc gia.

Do đó, các chỉ số như quy mô tài sản, dòng vốn lưu chuyển, tính thanh khoản, hay số lượng các định chế tài chính hiện diện…  tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa thể phản ánh một cách đầy đủ mức độ thành công của một trung tâm tài chính quốc tế.

- Nếu xây dựng một thang đo mức độ thành công của trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam, đâu là những tiêu chí cần được ưu tiên?

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh: Trên thế giới, có một vài thang đo được sử dụng để đánh giá các trung tâm tài chính, tiêu biểu là The Global Financial Centres Index (GFCI). Thang đo này dựa trên năm trụ cột, bao gồm môi trường kinh doanh (business environment), nguồn nhân lực (human capital), cơ sở hạ tầng (infrastructure), thị trường tài chính (financial sector development) và uy tín (reputation).

Đáng nói, GFCI có hơn 100 chỉ số/tiêu chí chi tiết (instrumental factor) để đánh giá mức độ cạnh tranh của các trung tâm tài chính trên thế giới. Ví dụ, ở mảng môi trường kinh doanh, có các chỉ số quan trọng như thuế, lạm phát, lãi suất, khung pháp lý. Mảng nhân lực bao gồm các tiêu chí về phát triển con người hay bằng sáng chế. Mảng cơ sở hạ tầng xem xét các chỉ số hạ tầng viễn thông, chỉ số bền vững năng lượng, chỉ số ô nhiễm, chỉ số thành phố thông minh. Mảng thị trường tài chính bao gồm các tiêu chí về vốn hóa thị trường cổ phiếu, phần trăm doanh nghiệp sử dụng vốn ngân hàng, tài sản các quỹ mở được quản lý, trái phiếu xanh, công nghệ tài chính (fintech). Về khía cạnh uy tín, đó là vốn FDI hay chỉ số cạnh tranh quốc tế.

Theo tôi, Việt Nam có thể tham khảo các trụ cột của GFCI để xây dựng hệ quy chiếu đánh giá sức cạnh tranh của trung tâm tài chính quốc tế. Tuy nhiên, như đã nói, cần đặt chúng vào bối cảnh thực tế và theo từng giai đoạn và nguồn lực ở Việt Nam.

Chúng ta có thể ưu tiên một số mảng làm lợi thế cạnh tranh, chẳng hạn như tài chính xanh, tài chính bền vững, fintech. Tuy nhiên, điều quan trọng và mang ý nghĩa lâu dài vẫn là phát triển nguồn nhân lực. Tôi cho rằng, việc đầu tư cho con người song hành với các lĩnh vực khác sẽ tạo nền tảng vững chắc để xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế phát triển bền vững.

- Như vậy, sức cạnh tranh là một trong những thước đo quan trọng phản ánh mức độ thành công của một trung tâm tài chính quốc tế. Còn vấn đề hiệu quả nên được nhìn nhận ra sao, thưa bà?

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh: Mục tiêu chính của trung tâm tài chính quốc tế là thúc đẩy các hoạt động thương mại, đầu tư xuyên quốc gia, từ đó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và xã hội. Tuy nhiên, một trung tâm tài chính quốc tế thu hút lượng giao dịch lớn nhưng chưa chắc đã tạo ra nhiều giá trị cho nền kinh tế sở tại. Điều này xảy ra khi rủi ro về nền kinh tế bong bóng hình thành, nơi các giao dịch đầu cơ “lấn lướt” dòng vốn đầu tư tạo giá trị thực cho doanh nghiệp và xã hội.

Vì vậy, hiệu quả của một trung tâm tài chính cần được đánh giá dựa trên những tác động thực lên nền kinh tế, như khả năng thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, thu hút và phân bổ nguồn vốn hiệu quả cho doanh nghiệp và các tổ chức, cũng như tạo ra những giá trị bền vững cho xã hội.

Cụ thể, trung tâm tài chính cần hình thành một hệ sinh thái gồm các định chế tài chính trong nước và quốc tế như ngân hàng, quỹ đầu tư, bảo hiểm... nhằm thu hút nguồn vốn, giúp doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp và các nguồn lực trong và ngoài nước một cách dễ dàng, hiệu quả.

Song song với đó, cần có khung pháp lý rõ ràng để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp và các tổ chức tài chính trong nước tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như IFRS hay Basel, qua đó nâng cao tính minh bạch và khả năng hội nhập. Ngoài ra, nguồn vốn huy động cần được đánh giá mục đích, rủi ro, hiệu quả sử dụng và tác động lên doanh nghiêp và các bên liên quan bao gồm cả môi trường và cộng đồng.

Hiệu quả của một trung tâm tài chính cần được đánh giá dựa trên những tác động thực lên nền kinh tế, như khả năng thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, thu hút và phân bổ nguồn vốn hiệu quả cho doanh nghiệp và các tổ chức, cũng như tạo ra những giá trị bền vững cho xã hội.

…mà nằm ở sản phẩm cụ thể, khác biệt

- Liên quan đến tiến trình xây dựng trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ đạo quyết liệt về việc phải “tạo cơ chế đột phá để nhanh chóng có một số sản phẩm chủ chốt”, đồng thời khẳng định tiền đề của thành công là phải có sản phẩm cụ thể. Theo bà, Việt Nam nên ưu tiên phát triển những sản phẩm nào ngay từ giai đoạn đầu?

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh: Theo tôi, các ngành mũi nhọn được xác định trong Nghị định số 323/2025/NĐ-CP như tài chính xanh, tài chính bền vững, fintech… sẽ là các ngành rất tiềm năng để thu hút dòng vốn và tạo dấu ấn cho Việt Nam. Đây đều là những xu hướng toàn cầu gắn với các mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals – SDGs) của Liên hợp quốc, đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp và các chính phủ trên toàn thế giới.

Mặt khác, xét trong khu vực, Việt Nam cũng sở hữu nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh ở các lĩnh vực này. Theo BIOFIN (Sáng kiến Tài chính Đa dạng Sinh học thuộc Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) - PV), chúng ta xếp hạng 16 trong số các quốc gia đa dạng sinh học nhất thế giới và là một trong 10 trung tâm giàu tài nguyên đa dạng sinh học nhất. Những năm gần đây, Việt Nam ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng trong việc phát hành tín dụng xanh. Chúng ta cũng đang có những bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy tài chính xanh, tín dụng xanh, tiêu biểu là Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về danh mục phân loại xanh.

Còn theo báo cáo về tín dụng bền vững ở các nước Đông Nam Á của HSBC và Climate Bonds Initiatives, năm 2021, Việt Nam đứng thứ hai khu vực về phát hành tín dụng xanh. Nghiên cứu của tôi và cộng sự công bố trên tạp chí Renewable Energy cũng cho thấy sự kết hợp của các yếu tố văn hóa Việt Nam như định hướng dài hạn, tính thích nghi cao với sự thay đổi và bất định là nền tảng thuận lợi cho sự phát triển của các sản phẩm như trái phiếu xanh.

Về fintech, Việt Nam hiện là một trong những thị trường hấp dẫn nhất khu vực trong mắt các nhà đầu tư, với tiềm năng tạo giá trị lớn. Theo báo cáo đổi mới sáng tạo và đầu tư công nghệ Việt Nam 2024, tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á trong hai năm liên tiếp.

Do đó, chúng ta hoàn toàn có thể phát huy thế mạnh trong các lĩnh vực trên. Tài chính bền vững và fintech, theo tôi, không chỉ phù hợp với nhu cầu hiện tại và tương lai của thị trường mà còn phù hợp với lợi thế sẵn có của Việt Nam.

- Kinh nghiệm từ các trung tâm tài chính quốc tế thành công như Singapore, Hng Kông hay Dubai cho thấy mỗi nơi đều xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên những sản phẩm và dịch vụ cốt lõi riêng. Với hai mảng tài chính bền vững và fintech mà bà vừa đề cập, Việt Nam nên lựa chọn hướng đi nào để tạo dấu ấn khác biệt cho sản phẩm của mình?

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh: Việt Nam có thể tập trung vào một vài mảng hẹp như tài chính xanh cho năng lượng tái tạo hoặc tài chính đa dạng sinh học (biofin), để tạo dấu ấn khác biệt.

Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Để biến những lợi thế tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực sự, Việt Nam cần có sự chuẩn bị đồng bộ về khung pháp lý, nguồn nhân lực, năng lực doanh nghiệp và hạ tầng công nghệ.

Đối với tài chính xanh và tài chính bền vững, điều quan trọng trước hết là phải xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn và quy định rõ ràng. Song song với đó là việc hướng dẫn, đào tạo doanh nghiệp trong công tác lập báo cáo và kiểm toán các thông tin liên quan đến môi trường, khí thải, ESG hay đa dạng sinh học. Đây là những yếu tố ngày càng được các nhà đầu tư quốc tế quan tâm khi đánh giá chất lượng doanh nghiệp và quyết định phân bổ vốn.

Các nền kinh tế phát triển đã đi trước khá xa trong lĩnh vực này. Từ lâu, họ đã có những hướng dẫn về báo cáo liên quan đến khí hậu như khung báo cáo thông tin tài chính liên quan đến khí hậu (The Task Force on Climate-related Financial Disclosures (TCFD) Framework), hay chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (International Financial Reporting Standards – IFRS), gồm IFRS S1 và IFRS S2. Hiện nay, nhiều quốc gia cũng đang thúc đẩy lộ trình bắt buộc các doanh nghiệp phải báo cáo và kiểm toán báo cáo khí thải (carbon/GHG reporting and assurance) thay vì chỉ dừng lại ở khuyến khích tự nguyện.

Nghiên cứu của tôi và cộng sự cũng cho thấy hoạt động kiểm toán báo cáo khí thải (carbon assurance) đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực huy động vốn.

Cùng với quá trình phát triển các sản phẩm tài chính mới, Việt Nam cũng cần xây dựng các chiến lược kiểm soát và cơ chế quản lý các rủi ro liên quan như rủi ro tẩy xanh (greenwashing), rủi ro an ninh mạng (cybersecurity risk) và bảo vệ dữ liệu cá nhân…

- Theo bà, trong 5-10 năm tới, thành công của một trung tâm tài chính quốc tế sẽ được định nghĩa khác như thế nào so với các mô hình kinh điển như Singapore hay Hng Kông?

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh: Theo tôi, trong 5-10 năm tới, định nghĩa về một trung tâm tài chính thành công sẽ chuyển dịch đáng kể, từ mô hình truyền thống sang mô hình tài chính thông minh, tài chính bền vững, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc.

Thực tế, quá trình chuyển dịch này đã bắt đầu diễn ra. Chẳng hạn, trong GFCI 39 công bố năm 2026, các tiêu chí như bền vững năng lượng, ô nhiễm môi trường, thành phố thông minh, trái phiếu xanh hay fintech đã được đưa vào hệ thống đánh giá năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính toàn cầu.

Trong tương lai, tôi dự đoán, các tiêu chí này sẽ trở thành các tiêu chí cốt lõi; đồng thời, hệ thống đánh giá cũng sẽ tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực mới như Biofin, AI và quản trị AI (AI governance) trong tài chính. 

Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi này!

Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh triển khai các hoạt động của trung tâm tài chính quốc tế theo định hướng đã được Quốc hội thông qua, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance phối hợp với Cơ quan Điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế tại thành phố Đà Nẵng (VIFC-DN) và Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) tổ chức hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới” vào 08h30 ngày 30/6/2026 tại Khách sạn Novotel, thành phố Đà Nẵng.

Hội thảo quy tụ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp và nhà đầu tư nhằm thảo luận các cơ chế đột phá để phát triển VIFC-DN, thu hút các dòng vốn thế hệ mới trong các lĩnh vực tài chính số, tài chính thương mại và tài chính xanh.

TheoThái Hà (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global