VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Chủ nhật, 16/08/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpTăng trưởng hai con số đòi hỏi một cấu trúc vốn mới

Tăng trưởng hai con số đòi hỏi một cấu trúc vốn mới

09:49:00 PM GMT+7Thứ 7, 15/08/2026

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần huy động khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng đây là yêu cầu chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi phải thay đổi tư duy huy động và phân bổ nguồn lực.

Không chỉ cần nhiều vốn hơn, nền kinh tế còn phải xây dựng một cơ cấu vốn cân bằng, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, phát huy mạnh mẽ vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và thị trường vốn để tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

- Việt Nam đang đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng hai con số trong nhiều năm tới. Theo ông, vì sao việc tái định hình nguồn vốn quốc gia lại trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa mục tiêu này?

TS. Lê Duy Bình: Điều đầu tiên cần nhìn nhận là quy mô nguồn lực mà nền kinh tế cần huy động trong giai đoạn tới là vô cùng lớn. Theo các tính toán hiện nay, để thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong vòng 5 năm tới. Đây là con số chưa từng có trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào trước đây.

TS Lê Duy Bình.

Với nhu cầu vốn lớn như vậy, chúng ta không thể tiếp tục trông chờ vào một nguồn lực duy nhất, đặc biệt là đầu tư công. Theo kế hoạch hiện nay, đầu tư công chỉ có thể đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng. Điều đó đồng nghĩa phần vốn còn lại, chiếm tỷ trọng rất lớn, bắt buộc phải được huy động từ các khu vực khác của nền kinh tế.

Nguồn lực đó trước hết phải đến từ khu vực kinh tế tư nhân trong nước, từ dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng như các nguồn vốn trên thị trường tài chính. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là huy động thêm vốn mà còn phải thay đổi căn bản cách thức huy động để nguồn lực được khai thác đầy đủ và hiệu quả hơn.

Tôi cho rằng, nếu vẫn duy trì cách tiếp cận như trước đây thì sẽ rất khó đáp ứng được nhu cầu vốn của giai đoạn phát triển mới. Khi mục tiêu tăng trưởng cao hơn, quy mô nền kinh tế lớn hơn thì cơ cấu nguồn vốn cũng phải thay đổi tương ứng. Quan trọng hơn, huy động vốn chỉ là một nửa vấn đề.

Nửa còn lại là phải phân bổ nguồn lực đó đến đúng khu vực có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao nhất. Nếu huy động được nhiều nhưng phân bổ thiếu hiệu quả thì nguồn lực vẫn có thể bị lãng phí và mục tiêu tăng trưởng sẽ khó đạt được. Có thể nói, tái định hình nguồn vốn quốc gia thực chất là tái cấu trúc cả quá trình huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế.

- Hiện nay, vốn ngân sách, vốn tư nhân và vốn FDI được xem là những trụ cột quan trọng phục vụ tăng trưởng. Theo ông, cần làm gì để các nguồn lực này có thể kết nối với nhau thay vì vận hành tương đối rời rạc như hiện nay?

TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, trước hết cần xác định rõ vai trò của từng nguồn vốn trong tổng thể nền kinh tế. Không phải nguồn vốn nào cũng có cùng chức năng. Mỗi nguồn lực cần được sử dụng đúng mục tiêu để tạo hiệu quả cộng hưởng.

Đối với đầu tư công, Nhà nước nên tập trung vào những công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia, những dự án có khả năng tạo ra năng lực sản xuất mới, mở rộng không gian phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đây là những lĩnh vực mà khu vực tư nhân khó hoặc chưa thể tham gia ngay từ đầu. Quan trọng hơn, đầu tư công cần được nhìn nhận như một nguồn vốn dẫn dắt, hay nói cách khác là “vốn mồi”, thay vì chỉ là nguồn vốn đầu tư trực tiếp.

Nếu một tuyến đường cao tốc được hoàn thành, nếu một cảng biển, sân bay hay khu logistics được đầu tư đồng bộ thì ngay lập tức khu vực tư nhân sẽ nhìn thấy cơ hội đầu tư vào các khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ và nhiều ngành nghề khác.

Nói cách khác, đầu tư công cần tạo ra không gian để đầu tư tư nhân phát triển. Chúng ta đã có nhiều mô hình rất hiệu quả trên thế giới như hợp tác công tư (PPP), hay mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).

Những mô hình này đều hướng tới mục tiêu sử dụng nguồn lực Nhà nước để kích hoạt nguồn lực xã hội. Nếu làm tốt, một đồng vốn đầu tư công có thể kéo theo nhiều đồng vốn tư nhân tham gia vào nền kinh tế. Đó mới là hiệu quả lớn nhất của đầu tư công. Bên cạnh đó, tôi cho rằng cũng cần tăng cường sự kết nối giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước.

Trong thời gian qua, chúng ta đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Đây là hướng đi rất đúng. Khi doanh nghiệp trong nước tham gia được vào chuỗi giá trị của khu vực FDI thì không chỉ dòng vốn được kết nối mà công nghệ, quản trị, kỹ năng lao động và năng lực cạnh tranh cũng được lan tỏa.

Đó mới là giá trị bền vững của việc thu hút đầu tư nước ngoài. Nếu chúng ta triển khai tốt các sáng kiến liên kết giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân và FDI thì tính rời rạc của các dòng vốn sẽ giảm đi đáng kể. Thay vì vận hành độc lập, các nguồn vốn sẽ bổ trợ cho nhau, tạo ra hiệu ứng cộng hưởng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế.

Tăng trưởng hai con số đòi hỏi một cấu trúc vốn mới.

- Một lượng rất lớn nguồn lực của nền kinh tế hiện vẫn đang bị “mắc kẹt” trong các dự án tồn đọng, đặc biệt là các dự án bất động sản và đất đai. Theo ông, cần có những cơ chế gì để khơi thông các nguồn lực này?

TS. Lê Duy Bình: Có thể nói, đây là một trong những dư địa tăng trưởng rất quan trọng của nền kinh tế hiện nay. Trong nhiều năm qua, không ít dự án đã phải dừng triển khai hoặc kéo dài nhiều năm do các vướng mắc về pháp lý, thủ tục hành chính hay những khó khăn trong quá trình thực hiện.

Điều đáng nói là khi một dự án bị đình trệ thì không chỉ riêng dự án đó bị ảnh hưởng mà một lượng rất lớn nguồn lực của xã hội cũng bị “đóng băng”. Đó có thể là vốn của doanh nghiệp, vốn vay của ngân hàng, quỹ đất, cơ sở hạ tầng đã đầu tư, nguồn nhân lực và rất nhiều nguồn lực khác không thể đưa vào sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Chính vì vậy, việc tháo gỡ các dự án tồn đọng không đơn thuần là giải quyết khó khăn cho một doanh nghiệp hay một địa phương, mà thực chất là giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng.

Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành cũng như chính quyền địa phương trong việc rà soát và tháo gỡ các vướng mắc pháp lý cho các dự án.

Thực tế cũng đã xuất hiện những mô hình rất thành công. Có những địa phương sau khi chủ động rà soát, xử lý các tồn tại về pháp lý đã giúp nhiều dự án được tái khởi động, dòng vốn được lưu thông trở lại và hoạt động sản xuất, kinh doanh nhanh chóng được khôi phục.

Đó là những kinh nghiệm rất đáng để nghiên cứu và nhân rộng. Theo tôi, từ những trường hợp thành công này, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng những cơ chế mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn để xử lý các dự án còn đang gặp khó khăn trên phạm vi rộng hơn. Khi các điểm nghẽn pháp lý được tháo gỡ, dòng vốn sẽ được giải phóng, tài sản sẽ được đưa trở lại lưu thông và nền kinh tế sẽ có thêm một nguồn lực rất lớn mà không nhất thiết phải huy động thêm từ bên ngoài.

Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhìn nhận một cách khách quan. Không phải mọi dự án đình trệ đều xuất phát từ cơ chế hay chính sách. Có những trường hợp nguyên nhân chủ yếu đến từ chính nhà đầu tư, từ năng lực quản trị, năng lực tài chính hoặc những quyết định đầu tư chưa phù hợp.

Do đó, trong quá trình tháo gỡ, cần phân định rất rõ trách nhiệm của từng bên. Đối với những vướng mắc thuộc về cơ chế, pháp luật thì Nhà nước cần chủ động xử lý, hoàn thiện chính sách và tạo điều kiện để dự án tiếp tục triển khai. Nhưng đối với những tồn tại xuất phát từ phía doanh nghiệp thì bản thân doanh nghiệp cũng phải chủ động tái cơ cấu, nâng cao năng lực quản trị và tìm giải pháp để khắc phục.

Không nên hình thành tâm lý cho rằng mọi khó khăn đều xuất phát từ cơ chế và chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Muốn giải phóng nguồn lực một cách thực chất thì phải có sự đồng hành của cả cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp. Khi cả hai cùng chia sẻ trách nhiệm thì quá trình khơi thông các nguồn lực mới đạt hiệu quả cao và tạo ra tác động lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế.

- Ông có đề xuất gì để việc tái định hình nguồn vốn quốc gia trong giai đoạn 2026-2030 vừa thúc đẩy tăng trưởng nhanh, vừa bảo đảm chất lượng và tính bền vững của nền kinh tế?

TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, yêu cầu đầu tiên vẫn là phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là nền tảng để mọi quyết định đầu tư được thực hiện với tâm lý ổn định và niềm tin dài hạn. Song song với đó, Việt Nam cần phát triển đồng bộ và hài hòa giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng thì rất khó đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế.

Ngược lại, nếu thị trường vốn phát triển lành mạnh, minh bạch và hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều kênh huy động vốn trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Một vấn đề rất quan trọng khác là phải khai thác tốt hơn các nguồn lực trong nước.

Trong nhiều trường hợp, chúng ta vẫn đang tập trung vào câu chuyện huy động thêm vốn mà chưa dành sự quan tâm tương xứng tới việc phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Theo tôi, hai khâu này có ý nghĩa gần như ngang nhau. Huy động được nguồn vốn lớn là điều cần thiết, nhưng nếu phân bổ không đúng địa chỉ hoặc sử dụng kém hiệu quả thì mục tiêu tăng trưởng cũng khó có thể đạt được.

Nguồn lực phải được đưa đến những doanh nghiệp, những ngành nghề và những dự án có khả năng tạo ra năng suất cao nhất, giá trị gia tăng lớn nhất và đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của nền kinh tế. Muốn làm được điều đó thì phải để thị trường thực hiện tốt vai trò phân bổ nguồn lực.

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường tính minh bạch của thị trường và tạo điều kiện để các nguồn vốn được lưu chuyển thuận lợi giữa các khu vực của nền kinh tế. Khi thị trường vận hành hiệu quả, chúng ta sẽ không chỉ huy động được nhiều nguồn lực hơn mà còn sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả hơn.

Đó mới là mục tiêu cốt lõi của quá trình tái định hình nguồn vốn quốc gia. Bởi xét đến cùng, tăng trưởng nhanh hay chậm không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn vốn mà còn phụ thuộc vào khả năng biến nguồn vốn đó thành năng suất, thành giá trị gia tăng và thành sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.

Trân trọng cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global