Thứ 3, 28/04/2026 | English | Vietnamese
09:56:00 AM GMT+7Thứ 3, 28/04/2026
Mùa ĐHĐCĐ năm 2026 ngân hàng dần khép lại với một nghịch lý rõ nét: trong khi hàng loạt nhà băng đặt mục tiêu lợi nhuận hàng chục nghìn tỷ, thì "đầu vào" quan trọng nhất – tăng trưởng tín dụng – lại bị siết lại.
Phát biểu tại đại hội của TPBank, Chủ tịch Đỗ Minh Phú thẳng thắn chỉ ra, hạn mức tín dụng giống như "tấm chăn không đủ rộng", nếu "kéo lên đầu thì hở chân, kín chân thì lạnh cổ". Câu nói không chỉ phản ánh câu chuyện riêng của TPBank, mà đang trở thành hình ảnh chung của toàn ngành.
Theo cơ chế mới, chỉ tiêu tín dụng sẽ theo xếp hạng từng ngân hàng. Như với TPBank, với điểm xếp hạng 4,52/5, ngân hàng này chỉ được cấp hạn mức tín dụng ban đầu khoảng 11,75%. Đáng chú ý, trong quý I/2026, ngân hàng chỉ được sử dụng 25% room, tương đương mức tăng trưởng thực tế khoảng 2,8%.
Trong khi đó, nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn lớn, lượng hồ sơ chờ giải ngân từ cuối 2025 "dồn ứ", buộc ngân hàng phải "co kéo" dòng vốn một cách thận trọng, cân đối giữa kế hoạch lợi nhuận hai con số và khả năng mở rộng tín dụng thực tế trong ngắn hạn.
Tại MB, Tổng Giám đốc ngân hàng cũng thẳng thắn thừa nhận, muốn tăng trưởng lợi nhuận thì vẫn phải dựa vào mở rộng quy mô, bởi thu nhập lãi chiếm tỷ trọng lớn nhất, còn thu từ dịch vụ "cao lắm cũng chỉ khoảng 30% tổng doanh thu".
Theo đó, năm 2026, MB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 20% so với mức thực hiện năm 2025 (34.268 tỷ đồng), tương đương khoảng 15-20% tương đương khoảng 39.400 - 40.000 tỷ đồng. Trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng tín dụng và huy động lên tới 30%, tổng tài sản tăng 28%. Nếu hoàn thành, quy mô tài sản của MB có thể tiến sát mốc 2 triệu tỷ đồng – tiệm cận nhóm ngân hàng lớn nhất hệ thống.
Tuy nhiên, theo đánh giá của FiinGroup, việc tăng trưởng tín dụng đang bị kiểm soát chặt hơn so với giai đoạn trước, khiến khả năng mở rộng quy mô – yếu tố then chốt để tăng lợi nhuận – không còn "dễ dàng". Điều này tạo ra độ lệch rõ rệt giữa kế hoạch và khả năng thực thi.
Bức tranh lợi nhuận 2026 cho thấy mức độ tham vọng chưa từng có. Dẫn đầu là Vietcombank với mục tiêu khoảng 52.500 tỷ đồng (tăng 5–10%); VPBank đặt kế hoạch 41.323 tỷ đồng, tăng mạnh 35%; MB với 39.400 - 40.000 tỷ đồng, tăng khoảng 15 - 20%.
Nhóm bám đuổi gồm Techcombank (37.500 tỷ đồng, +15%), BIDV (35.000 tỷ đồng, +26%) và VietinBank (33.000 tỷ đồng, +29%). Ở nhóm tiếp theo, ACB đặt mục tiêu lợi nhuận 24.500 tỷ đồng (+15%), HDBank hướng tới 20.000 tỷ đồng (+30%), SHB 17.655 - 19.165 tỷ đồng (+18% - +28%), VIB 11.550 tỷ đồng (+27%) và TPBank 10.300 tỷ đồng (+12%).
Trên đây là nhóm 11 nhà băng đặt mục tiêu lợi nhuận trên vạn tỷ – một mặt bằng lợi nhuận toàn ngành được đẩy lên nấc cao mới, nhưng cũng đồng thời đặt ra áp lực không nhỏ trong bối cảnh dư địa tăng trưởng tín dụng bị giới hạn, NIM thu hẹp và môi trường vĩ mô nhiều biến động.
Bản thân lãnh đạo các ngân hàng cũng thừa nhận bối cảnh không dễ dàng. Tổng Giám đốc VPBank cho biết, thanh khoản thị trường quý I/2026 "căng thẳng", khiến lãi suất huy động tăng lên mức cao nhất trong khoảng 3 năm, buộc ngân hàng phải chấp nhận chi phí vốn cao để duy trì tăng trưởng.
Một điểm đáng chú ý trong mùa ĐHĐCĐ năm nay là sự thay đổi rõ nét trong góc nhìn điều hành: không còn kỳ vọng NIM mở rộng, mà chuyển sang trạng thái chấp nhận thu hẹp. VPBank cho biết NIM đã giảm từ 4,6% xuống 4,53% và có thể tiếp tục xuống khoảng 4,4% trong năm 2026.
Nguyên nhân đến từ việc tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động (năm 2025: tín dụng khoảng 19% trong khi huy động chỉ 15%), cùng với áp lực giữ lãi suất cho vay ở mức hỗ trợ nền kinh tế. Điều này tạo ra một "gọng kìm": chi phí vốn tăng nhưng lãi cho vay khó tăng tương ứng.
Theo SSI Research, xu hướng này có thể khiến biên lãi ròng toàn ngành tiếp tục chịu áp lực trong năm 2026, đặc biệt ở các ngân hàng có tỷ lệ CASA thấp. Đồng thời, nợ xấu nội bảng có thể gia tăng ở một số lĩnh vực như bất động sản và tín dụng tiêu dùng, kéo theo chi phí dự phòng tăng và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận.
Không "may mắn" như nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc (được cấp hạn mức tín dụng cao hơn), một lãnh đạo ngân hàng tầm trung thừa nhận, bài toán năm nay không còn là "cho vay bao nhiêu", mà là "cho vay vào đâu để tối ưu lợi nhuận trong khi room hạn chế". Ở góc nhìn này, lợi nhuận cao không còn đến từ điều kiện thuận lợi, mà từ đánh đổi chi phí và rủi ro lớn hơn.
Tại đại hội một số ngân hàng như SHB hay VPBank, tăng trưởng tín dụng được nhấn mạnh là "kiểm soát chặt, gắn với chất lượng tài sản", thay vì mở rộng bằng mọi giá. Thông điệp khá rõ nét: tăng trưởng vẫn cần thiết, nhưng phải đi kèm kiểm soát rủi ro và tối ưu hiệu quả.
Theo VNDIRECT Research, dù các ngân hàng đang đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi, nhưng khó có thể thay thế vai trò của tín dụng trong ngắn hạn, đặc biệt khi thị trường bancassurance đang chững lại sau giai đoạn tăng trưởng nóng.
Khi "tấm chăn" tín dụng bị giới hạn, điểm chung dễ nhận thấy trong phát biểu của lãnh đạo các ngân hàng là sự dịch chuyển mạnh sang khai thác hệ sinh thái nhằm bù đắp tăng trưởng lợi nhuận.
Tại VPBank, ban lãnh đạo nhấn mạnh động lực lợi nhuận không còn đến từ ngân hàng mẹ mà đến từ các công ty thành viên. Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu 41.323 tỷ đồng, tăng 35%, trong đó kỳ vọng lớn vào sự phục hồi của FE Credit sau tái cấu trúc, cùng với đóng góp từ chứng khoán và bảo hiểm.
Hiệu ứng hệ sinh thái cũng thể hiện tại GPBank khi ngân hàng này ghi nhận lợi nhuận hơn 500 tỷ đồng sau khi tham gia hệ sinh thái, cho thấy vai trò hỗ trợ từ ngân hàng mẹ không chỉ ở vốn mà còn ở khách hàng và công nghệ.
Tương tự, MB xác định các công ty thành viên (bảo hiểm, chứng khoán, tài chính tiêu dùng) là động lực quan trọng, đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào lợi nhuận hợp nhất, trong khi ngân hàng số giúp mở rộng tệp khách hàng với chi phí thấp.
Ở TPBank, với mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, ban lãnh đạo cho biết sẽ đẩy mạnh thu nhập ngoài lãi, đặc biệt từ dịch vụ số và thẻ, nhằm bù đắp hạn chế từ tăng trưởng tín dụng.
Tuy nhiên, theo FiinRatings, việc mở rộng hệ sinh thái và tăng vốn nhanh cũng đặt ra thách thức về hiệu quả sử dụng vốn (ROE), khi lợi nhuận không tăng tương ứng có thể làm giảm hiệu quả sinh lời.
Nghịch lý nằm ở chỗ: muốn lợi nhuận tăng thì phải mở rộng tín dụng, nhưng muốn được nới tín dụng thì lại cần nền tảng vốn và chất lượng tài sản tốt – những yếu tố phụ thuộc vào chính lợi nhuận tích lũy. Nếu đẩy mạnh cho vay để đạt kế hoạch "vạn tỷ", ngân hàng lại đối mặt với rủi ro nợ xấu gia tăng; ngược lại, nếu thận trọng giữ chất lượng tài sản, tăng trưởng lợi nhuận sẽ chậm lại. Trong khi đó, việc chuyển sang thu nhập ngoài lãi cũng không dễ khi thị trường dịch vụ ngày càng cạnh tranh và biên lợi nhuận bị bào mòn.
Cơ quan quản lý siết tăng trưởng tín dụng thông qua "công thức định sẵn", mục tiêu là kiểm soát rủi ro hệ thống và ổn định vĩ mô, nhưng hệ quả là dòng vốn bị "nén" lại theo quý, khiến ngân hàng dù có thanh khoản vẫn không thể giải ngân kịp thời, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Trong bối cảnh đó, để giữ chân người gửi tiền và đảm bảo các chỉ số an toàn, ngân hàng buộc phải duy trì lãi suất huy động ở mức cao hơn, kéo chi phí vốn tăng lên. Tuy nhiên, lãi suất cho vay lại khó tăng tương ứng do mục tiêu hỗ trợ nền kinh tế, khiến biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp. Dường như, việc tìm điểm cân bằng giữa ổn định hệ thống và duy trì động lực tăng trưởng cho cả ngân hàng lẫn nền kinh tế sẽ là một bài toán khó.
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global