VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 3, 01/09/2026 | English | Vietnamese

Trang chủDoanh nghiệpPillar Two: Tái định hình lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua hút FDI

Pillar Two: Tái định hình lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua hút FDI

06:35:00 PM GMT+7Thứ 3, 01/09/2026

Cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu (Pillar Two) đã làm các gói ưu đãi thuế mất dần vai trò như một tấm vé ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài. Trong xu thế đó, buộc mõi quốc gia phải tái định hình lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua hút FDI.

Pillar Two có thực sự lấy đi lợi thế của Việt Nam?

Tháng 5/2026, Reuters dẫn tài liệu cho biết Samsung đang xây dựng nhà máy kiểm thử chip tại Thái Nguyên, với vốn đề xuất 1,5 tỷ USD và kế hoạch vận hành vào tháng 11/2027. Samsung chưa bình luận chính thức, nhưng thời điểm xuất hiện của dự án đáng chú ý: một tập đoàn chịu tác động của thuế tối thiểu toàn cầu vẫn tham vọng mở rộng tại Việt Nam. Thuế quan trọng, nhưng chưa bao giờ là yếu tố duy nhất giữ một tập đoàn ở lại.

Số liệu FDI năm 2025 đang cho thấy triển vọng lạc quan với cách nhìn này. Theo Cục Thống kê, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong năm năm, còn tổng vốn đăng ký đạt 38,42 tỷ USD; số dự án mới tăng 20,1%. Dòng vốn chưa rời đi, nhưng vốn đăng ký cấp mới giảm 12,2%, cho thấy Tái định hình lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua hút FDI Pillar Two - cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu - làm các gói ưu đãi thuế mất dần vai trò như một “tấm vé ưu tiên” trong thu hút các tập đoàn đa quốc gia. Tuy nhiên, đây không hẳn là tin xấu đối với Việt Nam.

Việt Nam áp dụng Pillar Two từ năm tài chính 2024 theo Nghị quyết 107/2023/QH15 và Nghị định 236/2025/NĐ-CP. Cơ chế áp dụng với tập đoàn đa quốc gia có doanh thu hợp nhất từ 750 triệu EUR trong ít nhất hai trên bốn năm tài chính liền kề. Bộ Tài chính từng ước tính hơn 70 doanh nghiệp có khả năng chịu ảnh hưởng và khoản thuế chênh lệch nước ngoài có thể thu vượt 12.000 tỷ đồng trong năm 2024, nhưng đây là dự báo năm 2023 chứ không phải số thu thực tế.

Pillar Two không làm mất mọi ưu đãi, mà làm giảm hiệu quả của ưu đãi dựa thuần túy trên thuế suất. Đây là cơ hội để Việt Nam sửa lại “hàm cạnh tranh” FDI: thay vì bán mức thuế thấp, Việt Nam có thể bán khả năng triển khai dự án với chi phí hợp lý, điện phù hợp và rủi ro thấp.

Việt Nam lấy gì để cạnh tranh?

Ngày cuối năm 2024, Chính phủ ban hành Nghị định 182/2024/NĐ-CP về Quỹ Hỗ trợ đầu tư, chuyển trọng tâm từ giảm thuế sang chia sẻ chi phí đầu vào. Chi phí đào tạo có thể được hỗ trợ tối đa 50%, R&D cao nhất 30%, tài sản cố định ở mức 1–10%; trung tâm R&D bán dẫn, AI có thể nhận tới 50% chi phí ban đầu nếu đủ điều kiện. Cách hỗ trợ này thường ít bị Pillar Two làm mất tác dụng trực tiếp hơn ưu đãi thuế.

Hỗ trợ theo chi phí cho phép Nhà nước gắn tiền với hành vi cần khuyến khích như tăng R&D, đào tạo kỹ sư, xây phòng thí nghiệm hoặc phát triển nhà cung ứng trong nước. Chính sách đang chuyển dần từ thu hút vốn bằng mọi giá sang lựa chọn dự án tạo thêm năng lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm nghẽn nằm ở điều kiện tiếp cận chính sách.

Các gói hỗ trợ chủ yếu được thiết kế dựa trên quy mô vốn đầu tư hoặc doanh thu, trong khi lĩnh vực bán dẫn và trung tâm dữ liệu AI lại áp dụng những tiêu chí riêng. Cách tiếp cận này giúp tập trung nguồn lực cho các dự án chiến lược, nhưng cũng khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có cơ hội hưởng lợi trực tiếp. Thay vì hạ thấp các điều kiện để mở rộng diện hỗ trợ, Việt Nam có thể yêu cầu các doanh nghiệp đầu chuỗi sử dụng một phần ưu đãi nhận được để đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và ưu tiên mở rộng cơ hội mua sắm, hợp tác với các doanh nghiệp trong nước.

Một yếu tố khác Việt Nam cần phát triển để tạo lợi thế cạnh tranh là điện xanh. Theo Climate Group, Intel và Samsung Electronics đặt mục tiêu dùng hoàn toàn năng lượng tái tạo lần lượt vào năm 2030 và 2050; Apple cho biết hơn 300 nhà sản xuất đã cam kết dùng năng lượng sạch vào năm 2030. Điện xanh trở thành một tiêu chí quan trọng trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư.

Việt Nam có điều kiện biến yêu cầu này thành lợi thế. Ngân hàng Thế giới ước tính tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi khoảng 600 GW; dù cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới (CBAM) chưa áp dụng với điện tử và bán dẫn, khách hàng quốc tế đã gây sức ép giảm phát thải trong chuỗi cung ứng. Cầu đã xuất hiện và tài nguyên cũng đã có, phần còn thiếu là cơ chế giúp hai bên gặp nhau.

Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) được thiết kế để lấp khoảng trống này. Qua các Nghị định 80/2024, 57/2025 và 243/2026, phạm vi tham gia đã được mở rộng, đơn vị bán lẻ điện tại khu sản xuất được bổ sung, còn tỷ lệ điện dư của điện mặt trời mái nhà được nâng lên tối đa 50% đến hết năm 2030. Tháng 6/2026, giao dịch DPPA đầu tiên qua lưới quốc gia giữa nhà máy điện mặt trời TTC Đức Huệ 2 và Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên cho thấy cơ chế đã bước ra khỏi văn bản.

Khoảng chờ 15 tháng kể từ Nghị định 57 phản ánh vướng mắc về đấu nối, đo đếm, thanh toán và phối hợp vận hành, nhưng nên được nhìn như giai đoạn thử nghiệm hơn là bằng chứng thất bại. Khung pháp lý đã được điều chỉnh theo phản hồi thị trường và giao dịch đầu tiên đã tạo tiền lệ. Bước tiếp theo không còn là chứng minh DPPA tồn tại, mà là nhân rộng cơ chế tại các khu công nghiệp công nghệ cao.

Để nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn FDI công nghệ cao, Việt Nam cũng cần thêm nhà máy vật liệu bán dẫn (wafer). Việt Nam đã tạo nền tảng trong lắp ráp, đóng gói và kiểm thử bán dẫn, những công đoạn đòi hỏi điện có độ tin cậy cao. Theo Intel, cơ sở tại Việt Nam là nhà máy lắp ráp và kiểm thử lớn nhất trong mạng lưới ATM; Amkor, Hana Micron, Marvell, Synopsys và Cadence cũng đã hiện diện. Đây chưa phải hệ sinh thái hoàn chỉnh, nhưng không còn là điểm xuất phát bằng không.

Ngày 26/6/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết Việt Nam có khoảng 60 doanh nghiệp thiết kế vi mạch, hơn 7.000 kỹ sư thiết kế và hơn 240 dự án FDI bán dẫn với tổng vốn trên 14 tỷ USD. Mật độ doanh nghiệp và nhân lực này đủ để hình thành hiệu ứng cụm ngành ban đầu. Vấn đề là chuyển hiệu ứng đó thành quan hệ mua hàng, R&D và chuyển giao công nghệ với khu vực trong nước.

Trong chuỗi đi từ thiết kế đến sản xuất wafer, rồi lắp ráp, đóng gói và kiểm thử, Việt Nam có vị trí rõ hơn ở các khâu cuối và đang phát triển thiết kế. Việc chưa có năng lực wafer thương mại dễ tạo cảm giác Việt Nam đứng ở phần giá trị thấp, nhưng cách nhìn này bỏ qua lợi thế chuyên môn hóa. Điều quan trọng là xây vị trí khó thay thế và dùng vị trí đó để tiến lên các khâu có giá trị cao hơn.

Dự án Samsung tại Thái Nguyên minh họa cho cơ hội này. Theo Reuters, nhà máy dự kiến kiểm thử DRAM và NAND dòng truyền thống, với công suất thiết kế lần lượt 153,3 tỷ và 255,6 tỷ gigabit mỗi năm. Giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở công suất, mà ở khả năng kéo theo nhà cung ứng, phòng thí nghiệm và kỹ sư, tạo chiếc cầu từ sản xuất điện tử sang hệ sinh thái bán dẫn sâu hơn.

Ngoài ra, việc đào tạo nhân lực cũng rất quan trọng. Quyết định 1017/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo 50.000 nhân lực đại học cho chuỗi bán dẫn, gồm 15.000 người ở thiết kế và 35.000 người ở các khâu khác; Quyết định 1018/QĐ-TTg xác lập chiến lược ngành đến năm 2050. So với 7.000 kỹ sư thiết kế hiện nay, mục tiêu này dễ tạo cảm giác Việt Nam thiếu hơn 40.000 người.

Kinh nghiệm Thái Lan cho thấy quy mô khởi đầu không cần lớn. Theo Văn phòng Hội đồng Chính sách Giáo dục Đại học, Khoa học, Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo quốc gia của Thái Lan (NXPO), nước này thí điểm đào tạo 161 sinh viên tại năm trường, trong khi Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) đặt trường đào tạo, lĩnh vực ưu tiên và lộ trình công nghiệp trong cùng chương trình đào tạo nhân lực. Việt Nam có quy mô lớn hơn, nên càng cần doanh nghiệp tham gia từ lúc thiết kế chương trình, thay vì chỉ xuất hiện khi tuyển dụng.

Ba mắt xích cần được nối lại

Nhà nước bảo đảm nguồn lực cho trường kỹ thuật, doanh nghiệp nhận hỗ trợ cam kết đào tạo và tuyển dụng, còn chính sách thu hút chuyên gia đưa kinh nghiệm quốc tế trở về. Kết quả phải đo bằng số người hoàn thành, tỷ lệ có việc làm đúng chuyên môn và số dự án tham gia. Mục tiêu không phải tạo đủ 50.000 tấm bằng. Mục tiêu là tạo đủ kỹ sư cho một ngành đang lớn lên.

Trên thực tế, Quỹ Hỗ trợ đầu tư, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và chương trình phát triển nhân lực thuộc ba chính sách khác nhau. Nhưng với nhà đầu tư, chúng đều trả lời cho một câu hỏi duy nhất: cần bao nhiêu thời gian, chi phí và rủi ro để xây dựng và vận hành một nhà máy tại Việt Nam. Một dự án được hỗ trợ chi phí R&D nhưng không tiếp cận được nguồn điện xanh, hoặc có điện nhưng không tuyển được kỹ sư phù hợp, vẫn khó có thể triển khai đúng kế hoạch. Vì vậy, điểm yếu không nằm ở việc thiếu chính sách, mà ở chỗ các chính sách chưa được kết nối với nhau.

Việt Nam hiện đã có đủ những công cụ quan trọng. Quỹ Hỗ trợ đầu tư giúp giảm chi phí đầu tư và nghiên cứu; DPPA tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn điện sạch dài hạn; còn chương trình phát triển nhân lực cung cấp đội ngũ kỹ sư và lao động có kỹ năng. Nếu ba công cụ này được triển khai đồng bộ theo một quy trình thống nhất, chúng sẽ tạo thành một “gói ưu đãi” hoàn chỉnh, có sức hấp dẫn lớn hơn nhiều so với từng chính sách riêng lẻ.

Vì thế, điều Việt Nam cần không hẳn là thêm một nghị định mới, mà là một cơ chế điều phối đủ mạnh để đồng hành với nhà đầu tư trong suốt quá trình triển khai dự án. Cơ chế đó cần cam kết rõ thời gian xét duyệt hỗ trợ, tiến độ giải ngân, khả năng tiếp cận điện xanh qua DPPA, kế hoạch cung ứng nhân lực và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng. Khi những yếu tố này được lượng hóa và có thể đưa vào mô hình tài chính, chính sách sẽ không chỉ là một lời hứa, mà trở thành lợi thế cạnh tranh có thể đo lường và định giá.

TheoTS. NGÔ NGỌC QUANG / Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global