VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 2, 10/08/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpNhững 'điểm đến' mới của dòng vốn FDI Singapore

Những 'điểm đến' mới của dòng vốn FDI Singapore

09:16:00 AM GMT+7Thứ 2, 10/08/2026

Làn sóng đầu tư tiếp theo của Singapore nhiều khả năng sẽ tập trung vào những lĩnh vực có sự giao thoa giữa các ưu tiên phát triển của Việt Nam và thế mạnh của Singapore.

Khởi động quá trình dịch chuyển sau Nghị quyết 10

Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu sự chuyển dịch quan trọng trong chiến lược đầu tư nước ngoài của Việt Nam: từ thu hút vốn theo số lượng sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao sản xuất giá trị gia tăng, tăng trưởng xanh và liên kết sâu hơn với các doanh nghiệp trong nước. Nghị quyết cũng khuyến khích đầu tư vào các trụ sở khu vực, trung tâm R&D, trung tâm dữ liệu, trung tâm tài chính và các chức năng có giá trị gia tăng cao hơn.

Dưới góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp Singapore, đây là một bước đi đúng hướng. Singapore từ lâu đã là một trong những đối tác đầu tư quan trọng nhất của Việt Nam, với hoạt động đầu tư trải dài trên nhiều lĩnh vực như sản xuất, bất động sản, logistics, năng lượng, bán lẻ, tài chính, công nghệ và hạ tầng công nghiệp.

Ông Tan Quee Peng Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Singapore tại Việt Nam (SingCham)

Tính đến tháng 1/2025, Singapore là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai tại Việt Nam với vốn FDI lũy kế hơn 84 tỷ USD. Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước cũng mở ra dư địa hợp tác trong các lĩnh vực như bán dẫn, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu và tài chính xanh.

Câu hỏi trọng tâm bây giờ là liệu Việt Nam có thể chuyển đổi từ một điểm đến đầu tư sản xuất thành công sang trở thành một cơ sở chiến lược trong khu vực cho các công ty Singapore hay không?

Để khởi động quá trình chuyển đổi này, Việt Nam phải cố gắng không chỉ cung cấp các ưu đãi như chi phí lao động hoặc đất công nghiệp để cạnh tranh về ưu đãi đầu tư.

Các công ty Singapore đang xem xét Việt Nam để trở thành trụ sở khu vực hoặc trung tâm hoạt động sẽ tìm kiếm ở Việt Nam khả năng dự đoán chính sách, chất lượng về thể chế và chiều sâu hoạt động.

Điều đó có nghĩa là Việt Nam cần có hệ thống pháp luật ổn định và được áp dụng nhất quán giữa các địa phương; thủ tục cấp phép minh bạch; cơ chế hải quan và quản lý thuế hiệu quả; cơ sở hạ tầng số và hạ tầng năng lượng đáng tin cậy; cơ chế bảo vệ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu; cùng với đội ngũ nhân lực chất lượng cao có khả năng hỗ trợ các chức năng quản lý, kỹ thuật, tài chính, tuân thủ, R&D và các hoạt động khác trong chuỗi cung ứng khu vực.

Bối cảnh này cũng diễn ra đồng thời với những thay đổi của môi trường đầu tư quốc tế. Các Quy tắc Chống Xói mòn Cơ sở Thuế Toàn cầu (thuế tối thiểu toàn cầu) rất có thể sẽ đẩy nhanh sự thay đổi khi các ưu đãi không phải ưu đãi thuế ngày càng trở nên thông dụng. Kể từ khi Việt Nam thực hiện khung thuế tối thiểu toàn cầu 15%, đối với các tập đoàn đa quốc gia lớn, việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp truyền thống và thuế suất ưu đãi ngày càng ít mang tính quyết định.

Đối với các công ty Singapore, quyết định đầu tư sẽ ngày càng phụ thuộc vào các yếu tố hỗ trợ phi thuế quan như tốc độ tiếp cận thị trường, sự ổn định của quy định pháp luật, khả năng tiếp cận lao động chất lượng cao, năng lượng sạch, hiệu quả và sự sẵn sàng của hệ thống logistics, chất lượng của các nhà cung cấp trong nước, năng lực giải quyết tranh chấp và khả năng mở rộng quy mô hoạt động trong khu vực.

Do đó, sự hỗ trợ của Chính phủ sẽ có giá trị nhất khi giúp giảm chi phí kinh doanh thực tế hơn là chỉ ưu đãi về thuế suất. Điều này bao gồm các khoản trợ cấp hoặc đồng tài trợ cho R&D, đào tạo nhân lực, thiết bị công nghệ cao, tiếp cận năng lượng tái tạo, chuyển đổi số, cơ sở thí nghiệm, nâng cấp nhà cung cấp và cơ sở hạ tầng xung quanh các dự án chiến lược.

Thu hút dòng vốn bằng lợi thế mới

So với các nước trong khu vực, lợi thế của Việt Nam nằm ở sự ổn định về chính trị, lực lượng lao động đông đảo và ngày càng có tay nghề cao, vị trí gần Trung Quốc và các chuỗi cung ứng lớn của châu Á, khả năng tiếp cận rộng rãi các hiệp định thương mại tự do, một thị trường nội địa đang phát triển nhanh chóng và năng lực đã được kiểm chứng trong sản xuất phục vụ xuất khẩu.

Ngoài ra, các nhà đầu tư Singapore cũng đánh giá cao niềm tin đã được xây dựng thông qua các nền tảng song phương như hệ thống Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP).

Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong ASEAN đang ngày một gay gắt khi các quốc gia như Indonesia, Malaysia và Thái Lan tiếp tục nỗ lực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Để xây dựng vị thế của mình, sức hấp dẫn lâu dài của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng cải thiện tính nhất quán của thủ tục hành chính, bảo đảm nguồn năng lượng ổn định, giảm thiểu tắc nghẽn logistics, phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực của các nhà cung cấp trong nước, đẩy nhanh cấp phép môi trường cho các dự án và thực thi pháp luật hiệu quả.

Mục tiêu của Nghị quyết 10 đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao vào năm 2030 là rất tham vọng nhưng cũng vô cùng cần thiết.

Làn sóng đầu tư tiếp theo của Singapore nhiều khả năng sẽ tập trung vào những lĩnh vực có sự giao thoa giữa các ưu tiên phát triển của Việt Nam và thế mạnh của Singapore.

Đó là chuỗi cung ứng chất bán dẫn và điện tử; trung tâm dữ liệu, hạ tầng đám mây và dịch vụ số; năng lượng tái tạo, lưu trữ năng lượng và quản lý carbon; dịch vụ logistics và chuỗi cung ứng; khu công nghiệp xanh; chăm sóc sức khỏe và công nghệ sinh học; công nghệ thực phẩm và chế biến nông sản; fintech, tài chính xanh và quản lý tài sản; cùng các giải pháp đô thị có giá trị cao.

Đây cũng là những lĩnh vực được Nghị quyết 10 xác định là ưu tiên. Tuy nhiên, để khai thác tiềm năng thu hút đầu tư vào các lĩnh vực này, Việt Nam sẽ cần một cách tiếp cận phù hợp hơn trong hoạch định chính sách.

Điều đó bao gồm các thỏa thuận mua bán điện được bảo đảm; khung pháp lý mạnh mẽ đối với dữ liệu và an ninh mạng; đẩy nhanh thủ tục đất đai và xây dựng; củng cố quan hệ đối tác giữa trường đại học và doanh nghiệp; tiếp cận các tiêu chuẩn ESG quốc tế đáng tin cậy; và các ưu đãi thiết thực gắn với chuyển giao công nghệ cũng như phát triển lực lượng lao động địa phương.

Mô hình Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) từ lâu đã trở thành một điểm nhấn trong hợp tác kinh tế song phương Việt Nam - Singapore.

Việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) cũng cần được nhìn nhận trong cùng cách tiếp cận đó. Nếu Việt Nam muốn thu hút các tổ chức tài chính toàn cầu và nguồn vốn quốc tế dài hạn vào IFC, Việt Nam nên nghiên cứu kỹ kinh nghiệm của Singapore, không chỉ bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất mà bằng cách tạo ra sự chắc chắn về khung pháp lý, các thể chế đáng tin cậy và cơ sở hạ tầng thị trường sâu rộng.

Các nhà đầu tư quốc tế thường đánh giá chất lượng môi trường kinh doanh hơn là quy mô nền kinh tế. Kinh nghiệm của Singapore cho thấy một IFC cần xác định rõ lợi thế cạnh tranh, đầu tư vào nguồn nhân lực và hạ tầng pháp lý, đồng thời tạo điều kiện để khu vực tư nhân liên tục đổi mới và thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới.

Nghị quyết 222/2025/QH15 đã đặt nền tảng cho quá trình này. Tuy nhiên, thành công sẽ phụ thuộc vào việc các quy định được thực thi nhất quán, rủi ro được giám sát chuyên nghiệp và các tranh chấp được giải quyết độc lập, hiệu quả.

Từ VSIP đến hệ sinh thái đầu tư

Mô hình Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) từ lâu đã trở thành một điểm nhấn trong hợp tác kinh tế song phương Việt Nam - Singapore. Những phát triển gần đây cho thấy mô hình này đang chuyển dịch dần sang các khu công nghiệp thông minh, bền vững và carbon thấp.

Sembcorp (tập đoàn Singapore trong liên doanh VSIP) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các giải pháp khu công nghiệp carbon thấp như năng lượng mặt trời, hệ thống lưu trữ pin, quản lý carbon và chứng chỉ năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, chiến lược VSIP 2.0 được định hướng phát triển các hệ sinh thái có giá trị cao hơn, dựa trên sự hợp tác giữa Chính phủ, giới học thuật và doanh nghiệp.

Theo định hướng này, VSIP thế hệ mới sẽ không chỉ là khu công nghiệp mà là hệ sinh thái tích hợp gồm năng lượng sạch, hạ tầng số, R&D, logistics, đào tạo và tài chính xanh.

Trong hệ sinh thái đó, khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị sẽ có ý nghĩa quyết định. Nghị quyết 10 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình lên 45-50% trong các ngành công nghiệp chủ chốt, đồng thời hướng tới khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi giá trị FDI, trong đó có từ 500-1.000 nhà cung cấp cấp I.

Từ quan điểm của doanh nghiệp Singapore, thách thức thường không đến từ việc không sẵn sàng mua hàng tại địa phương mà là liệu các nhà cung cấp trong nước có thể đáp ứng một cách nhất quán các tiêu chuẩn về chất lượng, số lượng, chi phí, thời gian giao hàng, khả năng truy xuất nguồn gốc, tuân thủ ESG, hệ thống tài liệu và năng lực hỗ trợ kỹ thuật hay không.

Nhiều nhà cung cấp Việt Nam vẫn còn có quy mô nhỏ, thiếu vốn và còn hạn chế về hệ thống quản lý, các chứng nhận, mức độ tự động hóa cũng như năng lực phát triển sản phẩm.

Để giúp doanh nghiệp Việt Nam tiến xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, Chính phủ cần tăng cường liên kết FDI - doanh nghiệp trong nước, đầu tư nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cấp hạ tầng và cải thiện khả năng tiếp cận vốn. Song song đó, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao quản trị, chất lượng, tuân thủ ESG, năng lực công nghệ và khả năng giao tiếp thương mại quốc tế.

Nghị quyết 10 đã xác định đúng hướng chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên chất lượng. Thành công của chiến lược này sẽ phụ thuộc vào quá trình cụ thể hóa chính sách và thực thi trên thực tế. Khi đó, Việt Nam sẽ có cơ hội trở thành một cứ điểm chiến lược của các doanh nghiệp Singapore trong khu vực.

TheoTan Quee Peng Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Singapore tại Việt Nam (SingCham) / Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global