Kinh tế Việt Nam quý III/2026 đã ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực với tốc độ tăng GDP ước đạt 9,95%, cao hơn 1,82 điểm phần trăm so với mức tăng 8,13% cùng kỳ năm 2025. Tính chung 9 tháng, GDP ước tăng 9,01%, cao hơn 1,20 điểm phần trăm so với mức tăng 7,80% cùng kỳ năm 2025. Đà tăng trưởng tiếp tục được củng cố, với công nghiệp và xây dựng tăng cao, dịch vụ mở rộng và nông, lâm nghiệp, thủy sản duy trì ổn định.
Giá trị tăng thêm của ba khu vực nông lâm thủy sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong quý III ước tăng lần lượt 4,21%, 12,50% và 9,45%. Tính chung 9 tháng, tăng 4,02%, 11,21% và 8,69%. Động lực tăng trưởng nổi bật từ công nghiệp chế biến, chế tạo; đầu tư, xây dựng, thương mại, tài chính, vận tải và một số hoạt động dịch vụ. Sự kết hợp này phản ánh nền kinh tế tiếp tục phục hồi, duy trì được nhịp tăng trưởng, thể hiện kết quả của những nỗ lực lớn trong điều hành và tinh thần vượt khó khăn của cả nền kinh tế.
Toàn cảnh tăng trưởng ấn tượng quý III và 9 tháng năm 2026
Theo bà Mai Hạnh, kết quả tăng trưởng nhìn từ phía cung cho thấy, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III duy trì phát triển ổn định ở cả 3 ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Đặc biệt, hoạt động chăn nuôi gia súc gia cầm và hoạt động nuôi trồng thủy sản tăng trưởng tích cực. Tính chung 9 tháng, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản giữ vững vai trò bệ đỡ của nền kinh tế.
Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng, với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vững vai trò là “đầu tàu”, xây dựng tăng tốc, sản xuất và phân phối điện tăng khá; khai khoáng duy trì tăng trưởng tốt.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tăng trưởng quý III đạt 12,28% và 9 tháng đạt 11,36%, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung, lần lượt là 3,46 và 3,09 điểm phần trăm.
Sản xuất mở rộng ở nhiều ngành chủ lực như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất đồ uống; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất phương tiện vận tải khác; sửa chữa, bảo dưỡng, lắp đặt máy móc thiết bị. Ngành khai khoáng tiếp tục ghi dấu tăng trưởng tốt kể từ quý III/2025, tốc độ tăng quý III/2026 đạt 9,47%, 9 tháng đạt 8,28%.
Kết quả này được đóng góp tích cực bởi tăng trưởng tốt của ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên, góp phần hỗ trợ cung ứng nguyên liệu trong nước trước biến động của thị trường năng lượng.
Ngành xây dựng đã có dấu hiệu tăng tốc trong quý III với mức tăng 14,22%, tính chung 9 tháng tăng 12,22%. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng trưởng tốt trong quý III đạt 13,13%, 9 tháng tăng 10,62%, đảm bảo vai trò cung ứng điện cho sinh hoạt và sản xuất.
Khu vực dịch vụ tiếp tục mở rộng, song tăng trưởng còn phân hóa giữa các ngành. Thương mại, vận tải và các dịch vụ phục vụ sản xuất, tiêu dùng duy trì mức tăng khá.
Cũng theo bà Mai Hạnh, nhìn từ phía cầu, chúng ta cũng thấy rằng, hoạt động đầu tư và nhu cầu tiêu dùng tiếp tục tạo điều kiện cho sản xuất mở rộng và duy trì tăng trưởng xuất, nhập khẩu. Quý III và 9 tháng tiêu dùng cuối cùng ước tăng lần lượt 8,96% và 8,51%; tích lũy tài sản ước tăng 21,39% và 17,88% xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27% và 21,29%, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,85% và 27,19%.
Tiêu dùng cuối cùng của nhà nước tăng 3,63% quý III, tính chung 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng của nhà nước chỉ tăng 1,22%, thấp hơn cùng kỳ năm 2025 là 10,95 điểm %. Diễn biến này phản ánh xu hướng cắt giảm chi tiêu của khu vực công, tập trung vào việc chi tiêu công có mục tiêu đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chính trị - hành chính và phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.
Đáng chú ý, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình vẫn duy trì được xu hướng tăng trưởng tốt, quý sau cao hơn quý trước, với mức tăng 9,95% quý III và 9,75% trong 9 tháng, đóng góp lần lượt 4,94 và 6,88 điểm % tăng trưởng. Điều này phản ánh sức cầu dân cư được cải thiện rõ nét hơn, sức cầu tăng chủ yếu nhờ các hoạt động dịch vụ, đặc biệt là hoạt động du lịch, lưu trú và giải trí.
Đặc biệt, cơ cấu tiêu dùng đang có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng nâng cao chất lượng và bền vững hơn. Xu hướng gia tăng chi tiêu cho các sản phẩm thân thiện môi trường (như phương tiện sử dụng năng lượng sạch, thiết bị tiết kiệm điện) cùng với sự mở rộng nhanh của nhóm dịch vụ trải nghiệm (du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí) cho thấy sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng theo hướng hiện đại hóa và gia tăng hàm lượng dịch vụ.
Tích lũy tài sản là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng trong 9 tháng đầu năm, với kết quả tăng trưởng ấn tượng quý III đạt 21,39%, 9 tháng đạt 17,88%, cho thấy những cải thiện đáng kể trong thực hiện đầu tư công và tín hiệu phục hồi của khu vực sản xuất. Tuy nhiên, 9 tháng cũng ghi nhận mức tăng kỷ lục từ Tích lũy tài sản lưu động (tăng 122,51%) do nguyên liệu, linh phụ kiện nhập khẩu tăng rất cao.
Xuất nhập khẩu tăng mạnh so cùng kỳ. Kim ngạch xuất, nhập khẩu 9 tháng tăng 30,4% so với cùng kỳ. Trong đó, tốc độ tăng xuất khẩu đạt 24,5%, tính vào GDP tăng 21,29%; song nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đạt 36,7%, tính vào GDP tăng 27,19%. Nhập siêu chủ yếu do biến động về giá xăng dầu, linh kiện điện tử và các doanh nghiệp tăng cường nhập khẩu nhập nguyên vật liệu cho xây dựng, mở rộng sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu, AI. Diễn biến nhập siêu có thể tạo áp lực nhất định lên đóng góp ròng của khu vực đối ngoại đối với tăng trưởng GDP.
Áp lực cho tăng trưởng 3 tháng cuối năm 2026
Trưởng Ban Nguyễn Thị Mai Hạnh cho hay, Quốc hội đặt mục tiêu GDP năm 2026 phấn đấu tăng từ 10% trở lên. Trên cơ sở kết quả 9 tháng tăng 9,01%, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,5% (cao hơn khoảng 4,1 điểm % so với quý IV/2025). Đây được xem là mục tiêu khó khăn và rất áp lực.
Bà Mai Hạnh chỉ ra, 3 tháng cuối năm, nước ta có thể phải đối mặt với một số áp lực lớn về phát triển kinh tế cụ thể như sau:
Một là, áp lực về điều hành kinh tế vĩ mô, biến động tỷ giá, giá năng lượng và nguyên liệu có thể làm tăng chi phí nhập khẩu, tạo sức ép lên giá trong nước. Do đó, điều hành quý IV cần bảo đảm vốn cho sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn kiểm soát lạm phát và giữ ổn định các cân đối lớn.
Hai là, đầu tư công chịu áp lực về tiến độ thực hiện và hiệu quả chuyển hóa thành tăng trưởng. Những tháng cuối năm thường tăng tốc giải ngân, song vốn chỉ tác động trực tiếp tới GDP quý IV khi vốn đầu tư chuyển nhanh thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế; Vướng mắc về mặt bằng, thủ tục điều chỉnh dự án, nguồn vật liệu hoặc năng lực nhà thầu có thể khiến vốn bố trí chưa chuyển kịp thành sản lượng của ngành xây dựng và các ngành cung ứng liên quan, như vậy tác động tới GDP quý IV sẽ bị chậm lại.
Ba là, biến động từ bên ngoài đặt áp lực lên công nghiệp và xuất khẩu. Với độ mở lớn của nền kinh tế, thay đổi về nhu cầu, chính sách thương mại và chuỗi cung ứng tại các thị trường lớn có thể tác động nhanh tới đơn hàng của ngành chế biến, chế tạo. Giá năng lượng và nguyên liệu biến động còn làm tăng chi phí sản xuất, vận tải. Vì vậy, thách thức của quý IV không chỉ là duy trì kim ngạch xuất khẩu, mà còn là giữ nhịp sản xuất và nâng phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước.
Bốn là, khu vực doanh nghiệp cũng tiếp tục chịu nhiều áp lực, phải đồng thời ứng phó với chi phí và thị trường đầu ra. Đơn hàng, dòng tiền và chi phí logistics ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì công suất, nhất là ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, việc vốn tín dụng có sẵn chưa đủ để thúc đẩy tăng trưởng nếu doanh nghiệp thiếu đơn hàng hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Nhận định áp lực và thách thức đặt ra cho phát triển 3 tháng cuối 2026 là có và không thể tránh khỏi, nữ Trưởng Ban đề xuất, để tháo gỡ điểm nghẽn giúp các nguồn lực hiện có tạo ra kết quả ngay trong quý IV, chúng ta cần đồng bộ các nhóm giải pháp, trong đó:
Thứ nhất, đẩy nhanh thực hiện đầu tư, nhất là các dự án có thể tạo khối lượng trong quý IV. Rà soát tiến độ từng dự án; giải quyết kịp thời vướng mắc về mặt bằng, thủ tục điều chỉnh, nguồn vật liệu và năng lực thi công. Trọng tâm là khối lượng xây dựng, lắp đặt thực hiện trong kỳ, đồng thời đẩy nhanh việc đưa công trình đã hoàn thành vào sử dụng.
Thứ hai, giữ nhịp sản xuất công nghiệp, đặc biệt là chế biến, chế tạo. Theo dõi đơn hàng, tồn kho và khả năng cung ứng nguyên liệu của các ngành xuất khẩu chủ lực để xử lý sớm khó khăn phát sinh. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, giảm ách tắc trong vận chuyển và thông quan; tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đơn hàng duy trì công suất, hoàn thành sản phẩm và giao hàng đúng tiến độ.
Thứ ba, khai thác nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ cuối năm. Bảo đảm nguồn cung, lưu thông hàng hóa; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng chất lượng dịch vụ vận tải, lưu trú và các dịch vụ phục vụ khách. Hiệu quả cần được nhìn ở lượng hàng hóa tiêu thụ, lượt khách và khối lượng dịch vụ thực hiện, cùng với giá trị tăng thêm tạo ra, không chỉ ở doanh thu tăng do giá.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện các giải pháp giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Theo dõi sát giá năng lượng, nguyên liệu, tỷ giá và mặt bằng giá để điều hành linh hoạt, tránh để chi phí tăng làm suy giảm sức mua và khả năng duy trì sản xuất.
Như vậy, trọng tâm của quý IV là tăng tốc thực hiện: vốn đầu tư thành khối lượng công trình; đơn hàng thành sản phẩm được sản xuất, tiêu thụ; nhu cầu cuối năm thành khối lượng dịch vụ thực tế. Khả năng chuyển hóa đó sẽ quyết định mức đóng góp của 3 tháng cuối năm vào tăng trưởng GDP năm 2026.



