VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 4, 29/04/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpNâng ngưỡng miễn thuế hộ kinh doanh: 'Mới chỉ xử lý phần ngọn'

Nâng ngưỡng miễn thuế hộ kinh doanh: 'Mới chỉ xử lý phần ngọn'

10:15:00 AM GMT+7Thứ 4, 29/04/2026

Theo TS. Lê Duy Bình, tranh luận về ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh thực chất mới chỉ xử lý “phần ngọn”. Điều quan trọng hơn là phải xác lập rõ địa vị pháp lý và cách tiếp cận thuế phù hợp với bản chất kinh doanh cá thể, từ đó tạo nền tảng cải cách bền vững.

Ngày 24/4, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi các luật thuế, trong đó bỏ ngưỡng miễn thuế 500 triệu đồng/năm đối với hộ kinh doanh và giao Chính phủ quy định lại mức phù hợp. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề xuất nâng ngưỡng lên 1 tỷ đồng/năm – mức có thể giúp khoảng 2,5 triệu hộ được miễn thuế, giảm đáng kể áp lực tuân thủ và thủ tục hành chính, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm công bằng giữa các nhóm kinh doanh và hạn chế tình trạng “lách luật”.

Xung quanh đề xuất này, câu hỏi về mức ngưỡng hợp lý và cách thiết kế chính sách để vừa hỗ trợ hộ kinh doanh, vừa đảm bảo kỷ cương thuế tiếp tục thu hút nhiều tranh luận. Tạp chí Đầu tư Tài chính đã trao đổi với TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, để làm rõ vấn đề.

TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam.

Mỗi mức ngưỡng đều có những bất cập riêng

- Thưa ông, đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng đang thu hút nhiều ý kiến. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

TS. Lê Duy Bình: Theo số liệu trong tờ trình của Bộ Tài chính, hiện có khoảng 3,6 triệu hộ kinh doanh đang thuộc diện quản lý thuế, trong đó một nửa – tức khoảng 1,8 triệu hộ – có doanh thu dưới 500 triệu đồng mỗi năm. Số hộ đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng chỉ vào khoảng 37.000, và nhóm có quy mô lớn hơn, trên 10 tỷ đồng, cũng chỉ hơn 4.000 hộ.

Nếu đặt trong giả định phổ biến là tỷ suất lợi nhuận biên khoảng 10%, thì với mức doanh thu từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng, lợi nhuận thực tế của một hộ kinh doanh chỉ dao động từ 50 đến 100 triệu đồng mỗi năm, tương đương khoảng 4–10 triệu đồng mỗi tháng. Ngay cả trong trường hợp doanh thu lên tới 2 tỷ đồng, thì lợi nhuận bình quân cũng chỉ khoảng 200 triệu đồng/năm, tức khoảng 16 triệu đồng/tháng. Nếu chia cho quy mô lao động trung bình khoảng 1,5 người/hộ, thì thu nhập bình quân đầu người cũng chỉ quanh mức 10 triệu đồng/tháng, thấp hơn ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân hiện hành.

Trong bối cảnh phần lớn hộ kinh doanh có mức thu nhập như vậy nhưng vẫn đang chịu thuế tính trên doanh thu, đề xuất nâng ngưỡng miễn thuế lên 1 tỷ đồng có thể xem là hợp lý ở một mức độ nhất định, nhằm giảm bớt gánh nặng cho nhóm kinh doanh nhỏ.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng việc điều chỉnh ngưỡng – dù là lên 1 tỷ, 2 tỷ hay cao hơn nữa cũng khó có thể chấm dứt tranh luận, bởi bản thân cách tiếp cận dựa trên ngưỡng doanh thu chưa chạm tới vấn đề cốt lõi của chính sách thuế đối với khu vực hộ kinh doanh.

- Vì sao ông cho rằng việc điều chỉnh ngưỡng doanh thu chỉ là giải pháp “phần ngọn”?

TS. Lê Duy Bình: Bởi vì mỗi mức ngưỡng đều có những bất cập riêng. Nếu giữ 500 triệu đồng, chi phí tuân thủ sẽ tiếp tục là gánh nặng với hộ kinh doanh nhỏ. Nếu nâng lên 1 tỷ đồng, có thể phù hợp với một số ngành như ăn uống, dịch vụ – nơi lợi nhuận biên cao, nhưng lại không công bằng với các lĩnh vực như bán lẻ, tạp hóa, vốn có biên lợi nhuận rất thấp, chỉ khoảng 5–8%.

Tương tự, ngưỡng 1 tỷ đồng có thể hợp lý với hộ chỉ có một lao động, nhưng lại bất hợp lý với hộ sử dụng 5 – 6 lao động. Ở khu vực nông thôn, mức này có thể phù hợp, nhưng tại đô thị lớn – nơi chi phí cao hơn nhiều – thì lại không còn tương thích.

Chưa kể, dưới tác động của lạm phát và biến động giá cả, bất kỳ ngưỡng nào cũng sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu sau một thời gian. Khi đó, tranh luận lại tiếp diễn.

Ngoài ra, việc nâng ngưỡng còn có thể tạo ra hiệu ứng ngược. Các hộ kinh doanh sẽ có xu hướng “giữ nhỏ”, hoặc tách hộ để nằm dưới ngưỡng miễn thuế. Thậm chí, các doanh nghiệp siêu nhỏ – vốn có doanh thu chỉ 1–3 tỷ đồng/năm – cũng có thể cân nhắc quay lại mô hình hộ kinh doanh để giảm chi phí tuân thủ. Điều này sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa khu vực chính thức và phi chính thức.

- Như ông phân tích, dường như câu chuyện không nằm ở con số ngưỡng chịu thuế. Vậy theo ông, điểm mấu chốt thực sự ở đâu?

TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc lựa chọn mức ngưỡng doanh thu 500 triệu, 1 tỷ hay cao hơn, mà nằm ở cách chúng ta xác định và đối xử với hộ kinh doanh trong khuôn khổ pháp lý hiện hành. Nếu chưa làm rõ được địa vị pháp lý của khu vực này, thì mọi điều chỉnh về ngưỡng thuế thực chất chỉ là xử lý phần “ngọn”, mang tính tình thế, và rất khó tránh khỏi những tranh luận kéo dài.

Hiện nay, về bản chất, hộ kinh doanh là các cá nhân tự tạo việc làm, hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô rất nhỏ. Cả nước có khoảng 5,2 triệu hộ với hơn 8 triệu lao động, trung bình mỗi hộ chỉ khoảng 1,5 lao động, bao gồm cả chủ hộ. Họ không có tư cách pháp nhân, chủ hộ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh, tài sản và nghĩa vụ nợ. Đồng thời, họ cũng không thể vay vốn hay giao dịch dưới danh nghĩa pháp lý của hộ như một doanh nghiệp thông thường.

Nâng ngưỡng miễn thuế chưa giải quyết gốc rễ, cần xác lập lại địa vị pháp lý hộ kinh doanh.

Nếu đối chiếu với thông lệ quốc tế, đây thực chất là mô hình “doanh nghiệp một chủ” – tức các cá nhân kinh doanh độc lập (sole proprietorship). Với bản chất như vậy, cách tiếp cận phù hợp nhất về thuế phải là đánh vào thu nhập thực tế, tức phần lợi nhuận sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý, chứ không phải đánh trực tiếp trên doanh thu như hiện nay. Bởi doanh thu không phản ánh đúng năng lực đóng góp hay khả năng chịu thuế của từng hộ, đặc biệt trong bối cảnh các ngành nghề có biên lợi nhuận rất khác nhau.

Chính vì chưa xác lập rõ nền tảng pháp lý nên chính sách thuế đối với hộ kinh doanh đang rơi vào tình trạng “nửa vời”: vừa chưa thực sự đơn giản như với cá nhân, vừa chưa đầy đủ và minh bạch như với doanh nghiệp. Điều này dẫn đến hệ quả là mỗi khi điều chỉnh ngưỡng doanh thu, dù tăng hay giảm, đều phát sinh những bất cập và tranh luận mới, bởi gốc rễ vấn đề chưa được xử lý.

Do đó, theo tôi, điều cần ưu tiên không phải là tiếp tục bàn về con số ngưỡng, mà là xác lập lại cách tiếp cận: cần làm rõ hộ kinh doanh là một chủ thể pháp lý như thế nào trong nền kinh tế, từ đó thiết kế một hệ thống chính sách thuế phù hợp, công bằng và sát với bản chất hoạt động của họ. Khi giải quyết được nền tảng này, các vấn đề về ngưỡng chịu thuế sẽ tự nhiên trở nên rõ ràng và ít gây tranh cãi hơn.

Cần khung pháp lý riêng cho hộ kinh doanh

- Nếu chuyển sang đánh thuế theo thu nhập cá nhân, việc áp dụng có khả thi không?

TS. Lê Duy Bình: Hoàn toàn khả thi. Chúng ta đã có sẵn Luật Thuế thu nhập cá nhân với các quy định tương đối đầy đủ. Ví dụ, từ kỳ tính thuế 2026, mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm.

Nếu áp dụng cho hộ kinh doanh, thì chỉ khi thu nhập – tức là lợi nhuận sau khi trừ chi phí – vượt mức này, chủ hộ mới phải nộp thuế. Điều này phản ánh đúng bản chất kinh tế hơn so với việc đánh thuế trên doanh thu.

Quan trọng hơn, cách tiếp cận này sẽ công bằng hơn giữa các ngành nghề, vì mỗi lĩnh vực có mức chi phí và biên lợi nhuận khác nhau. Đồng thời, người nộp thuế cũng được khấu trừ chi phí hợp lý, áp dụng giảm trừ gia cảnh, qua đó nâng cao tính nhân văn của chính sách.

- Việc này có tác động như thế nào đến quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp?

TS. Lê Duy Bình: Khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân đúng cách, các hộ kinh doanh lớn – đặc biệt là nhóm có doanh thu trên 10 tỷ đồng – sẽ phải chịu mức thuế lũy tiến cao, có thể lên tới 25% hoặc 35%.

Khi đó, dưới tác động của cơ chế thị trường, họ sẽ có động lực chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp để được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn, khoảng 20% hoặc thấp hơn nếu có ưu đãi. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể khấu trừ chi phí thuận lợi hơn.

Như vậy, thay vì áp đặt hành chính, chính sách thuế sẽ trở thành công cụ điều tiết hành vi, giúp các hộ kinh doanh “trưởng thành” một cách tự nhiên.

- Vậy, theo quan điểm của ông, về mặt tổng thể, chúng ta nên làm gì trong thời gian tới?

TS. Lê Duy Bình: Giải pháp căn cơ nhất là cần xây dựng một khung pháp lý riêng cho khu vực kinh doanh cá thể. Có thể xem xét ban hành một luật riêng, chẳng hạn “Luật Kinh doanh cá thể”, để điều chỉnh nhóm đối tượng này.

Khi đó, hệ thống pháp luật sẽ gồm hai trụ cột rõ ràng: Luật Doanh nghiệp dành cho pháp nhân và một luật riêng dành cho thể nhân kinh doanh. Hộ kinh doanh có thể được gọi là doanh nghiệp cá thể, với địa vị pháp lý rõ ràng.

Trên nền tảng đó, các chính sách về thuế, bảo hiểm xã hội, lao động… sẽ được thiết kế đồng bộ, phù hợp với bản chất của khu vực này. Đồng thời, quy định cần đơn giản, dễ tuân thủ và chi phí thấp.

Trân trọng cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global