Thứ 6, 08/05/2026 | English | Vietnamese
09:18:00 AM GMT+7Thứ 6, 08/05/2026
Mỗi năm, Việt Nam tạo ra khoảng 156 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, bã mía hay vỏ dừa. Khối lượng “rác” khổng lồ này hiện vẫn chủ yếu bị bỏ đi hoặc xử lý kém hiệu quả, trong khi theo góc nhìn kinh tế tuần hoàn, đây lại là một “mỏ vàng xanh” có thể tạo ra giá trị hàng tỷ USD.
Những vật liệu tưởng chừng bỏ đi như lá dứa, bã cà phê, cỏ dại hay vỏ dừa đang dần thoát khỏi vai trò phế thải để trở thành nguyên liệu chiến lược trong nhiều ngành sản xuất. Từ thời trang, thủ công mỹ nghệ đến vật liệu sinh học, Việt Nam đang chứng kiến sự hình thành rõ nét của một xu hướng mới: biến “rác” thành tài nguyên trong nền kinh tế tuần hoàn.
Theo bà Trần Hoàng Phú Xuân, Nhà sáng lập Faslink, ngành thời trang nhanh hiện dư cung 30 - 40% và là một trong những ngành gây ô nhiễm lớn nhất thế giới. Trong bối cảnh đó, phát triển bền vững không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc.
Tuy nhiên, bà cho rằng thời trang xanh khó có thể phát triển nếu chỉ dựa vào yếu tố “xanh” để tiếp thị, bởi chi phí cao và chưa đủ thuyết phục người tiêu dùng. Từ thực tế này, Faslink lựa chọn hướng đi khác: khai thác tài nguyên bản địa để tạo giá trị mới, phát triển sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lá dứa nguồn nguyên liệu dồi dào khi Việt Nam có hơn 52.000 ha trồng dứa và còn tiếp tục tăng.
Không chỉ trong dệt may, nhiều doanh nghiệp khác cũng đang khai thác những “tài nguyên bị lãng quên”. Ông Lai Trí Mộc, Tổng giám đốc Vietnam Housewares, cho biết cỏ năn tượng loại cỏ mọc hoang ở miền Tây Nam Bộ đã được chuyển hóa thành nguyên liệu cho đồ thủ công mỹ nghệ và nội thất sinh thái xuất khẩu sang châu Âu.

Hiện doanh nghiệp vận hành 3 nhà máy, tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động. Theo ông Mộc, khai thác tài nguyên bản địa không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tạo lợi thế cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu: “Phát triển bền vững đồng nghĩa phải đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định.”
Ở lĩnh vực nông sản chế biến, bà Nguyễn Thị Nga, Giám đốc Bách Việt Thông, cho biết doanh nghiệp đã chuyển từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu phụ phẩm dừa như xơ dừa, than gáo dừa và bột vỏ dừa. Việc này không chỉ nâng giá trị sản phẩm mà còn tạo thêm thu nhập ổn định cho nông dân.
Theo số liệu của Bộ NN&MT, mỗi năm Việt Nam tạo ra hơn 156 triệu tấn phụ phẩm, gồm rơm rạ, trấu, bã mía, vỏ cà phê và chất thải chăn nuôi. Đây là nguồn sinh khối rất lớn nhưng phần lớn chưa được khai thác hiệu quả.
Thực tế cho thấy chỉ khoảng 10% phụ phẩm được tái chế hiệu quả, trong khi riêng rơm rạ có tới 45,9% bị đốt trực tiếp ngoài đồng ruộng. Trong ngành mía đường, hàng triệu tấn bã mía và mật rỉ vẫn chưa được tận dụng tương xứng với tiềm năng làm năng lượng sinh học hay vật liệu sinh học.
Ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Tập đoàn Thái Bình Seed nhận định: “Mỗi loại phụ phẩm đều chứa giá trị riêng nếu được khai thác đúng cách.” Ông dẫn chứng rơm rạ có thể làm phân hữu cơ hoặc viên nén năng lượng, trấu dùng sản xuất than hoạt tính, còn nước thải chế biến có thể tạo chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp.
Các chuyên gia ước tính nếu tận dụng hiệu quả, Việt Nam có thể tạo ra hàng chục triệu tấn phân bón hữu cơ mỗi năm, giảm phụ thuộc nhập khẩu và gia tăng giá trị cho ngành nông nghiệp.
Những ‘nút thắt’ của hành trình xanh
Dù tiềm năng rất lớn, hành trình thương mại hóa các sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp vẫn đang đối mặt với không ít thách thức.
Ông Võ Văn Luật, đại diện Quản lý phát triển sản phẩm phía Nam Fuwa, cho biết một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là chi phí sản xuất. Các sản phẩm sử dụng thành phần tự nhiên thường có giá thành cao hơn so với sản phẩm công nghiệp truyền thống, khiến khả năng tiếp cận thị trường đại chúng còn hạn chế. “Chúng tôi và nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực tối ưu quy trình sản xuất, nhưng việc đưa sản phẩm xanh đến số đông người tiêu dùng vẫn là một bài toán khó,” ông Luật chia sẻ.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Anh Cường, Giám đốc Green Ecosystem, cho biết doanh nghiệp đã phát triển giải pháp thay thế lớp nhựa PE trên sản phẩm giấy bằng lớp phủ acrylic gốc nước. Công nghệ này vừa đảm bảo khả năng chống thấm, vừa có thể tái chế, góp phần giảm rác thải nhựa ra môi trường. Tuy vậy, ông Cường thừa nhận quy mô thị trường vẫn còn khiêm tốn: “Đây là hướng đi nhiều tiềm năng cho bao bì xanh trong tương lai, nhưng chúng tôi cần thêm chính sách hỗ trợ để hình thành hệ sinh thái thu gom và tái chế đồng bộ.”
Có thể thấy, ngay cả khi công nghệ đã sẵn sàng và sản phẩm ngày càng thân thiện hơn với môi trường, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở việc đưa các sáng kiến từ phòng thí nghiệm ra thị trường một cách bền vững và rộng rãi.
Đây cũng là vấn đề được bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hiệp hội Hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều lần nhấn mạnh khi nhìn lại quá trình thương mại hóa sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam. Theo bà, không ít mô hình từng thất bại không phải vì thiếu công nghệ, mà vì thiếu sự liên kết trong toàn bộ chuỗi giá trị.
“Cách đây 5 năm đã có đơn vị làm sợi vải từ lá dứa nhưng không thành công vì không kết nối được các khâu sau sản xuất. Hay cỏ năn tượng đã được nghiên cứu từ năm 2002, nhưng phải gần 20 năm sau mới có doanh nghiệp đưa vào sản xuất và xuất khẩu,” bà dẫn chứng.
Thực tế cho thấy, nhiều phụ phẩm từng bị xem là “rác” nay đã dần trở thành nguyên liệu giá trị nhờ tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở quy mô nghiên cứu hoặc sản xuất nhỏ lẻ, giá trị tạo ra sẽ khó bền vững.
Theo bà Hạnh, để khai thác hiệu quả “mỏ vàng xanh” này, doanh nghiệp cần đầu tư bài bản từ thiết kế sản phẩm hiện đại, đảm bảo giá thành cạnh tranh, xây dựng chuỗi cung ứng ổn định cho đến việc bảo đảm thu nhập xứng đáng cho người nông dân. “Chỉ khi những yếu tố đó được kết nối đồng bộ, sản phẩm mới có thể thực sự bước ra thị trường lớn,” bà nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tái chế phụ phẩm nông nghiệp lên 70% vào năm 2030 và hướng tới trung hòa carbon vào năm 2050, việc biến phụ phẩm thành nguyên liệu sản xuất không chỉ là một xu hướng tất yếu, mà còn là nền tảng quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế xanh trong tương lai.
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global