VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 4, 08/07/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpHội thảo trực tuyến Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp

Hội thảo trực tuyến Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp

12:38:00 PM GMT+7Thứ 4, 08/07/2026

Sáng 8/7, tại trụ sở Báo Nhân Dân (71 Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội) sẽ diễn ra Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức. Sự kiện được tường thuật trực tiếp trên Nhân Dân điện tử.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” nhằm tạo diễn đàn đối thoại, trao đổi về các giải pháp cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng thực chất, hiệu quả; tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực doanh nghiệp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Điểm nhấn của hội thảo là hai phiên thảo luận chuyên sâu:

“Cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh”: Tập trung nhận diện những thủ tục, điều kiện kinh doanh còn chồng chéo, gây tốn kém thời gian và chi phí; đề xuất giải pháp cắt giảm thực chất, ngăn ngừa tình trạng chuyển “giấy phép con” thành các quy chuẩn, tiêu chuẩn hoặc thủ tục phát sinh mới.

“Kinh tế tư nhân: Trung tâm của chiến lược tăng trưởng”: Làm rõ các điều kiện để doanh nghiệp tư nhân nâng quy mô, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; đồng thời kiến nghị cơ chế tiếp cận công bằng hơn đối với vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ và thị trường.

Thông qua đối thoại tại hội thảo, những kiến nghị thiết thực từ thực tiễn sẽ được tổng hợp để gửi tới các cơ quan có thẩm quyền, góp phần thúc đẩy cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ, củng cố niềm tin và mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp.

2aoboqivvr0nufjenymnletlsj13bsj8p8xupppa.jpg

Nhấn  để xem nội dung mới nhất

Về phía các cơ quan Trung ương và các bộ, ngành, hội thảo có sự tham dự của các đồng chí: Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế-Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể, Bộ Tài chính.

ndo_tr_z8019243111649-4c20f7e9230e6a9fc94707520fbe9db3.jpg
Quang cảnh hội thảo.

Về phía các diễn giả, chuyên gia kinh tế, có sự hiện diện của: Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Phát triển Doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế, Bộ Tài chính; ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam; ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh; ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam; và bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.

Về phía Báo Nhân Dân có sự hiện diện của các đồng chí: Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Quế Đình Nguyên, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân; Phan Văn Hùng, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân.

Về phía Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có sự hiện diện diện của các đồng chí: Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Hội thảo cũng có sự tham gia của các chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp, doanh nhân, cơ quan thông tấn báo chí.

Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam:

Tạo nền tảng đối thoại và kết nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước, các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp

Kính thưa quý vị đại biểu, quý vị khách quý, các đồng chí Lãnh đạo ban, bộ, ngành, các chuyên gia kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân có mặt tại hội thảo ngày hôm nay.

Thay mặt Ban Tổ chức, tôi xin nhiệt liệt chào mừng quý vị đại biểu đã đến tham dự Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp”, do Báo Nhân Dân phối hợp với Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam tổ chức ngày hôm nay.

Kính thưa các quý vị đại biểu!

Chúng ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những chuyển dịch mạnh mẽ và đầy kỳ vọng của nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác lập tầm nhìn chiến lược của đất nước với mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa 2 mục tiêu chiến lược đề ra, nền kinh tế phải chuyển sang trạng thái bứt tốc mạnh mẽ, tăng trưởng 2 con số liên tục trong cả giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế mà đã trở thành mệnh lệnh chính trị gắn với khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Bước vào năm đầu tiên của nhiệm kỳ, cả nước đang dồn sức thực hiện mục tiêu tăng trưởng với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững. Trong sự vận động đó, doanh nghiệp được xác định là lực lượng xung kích, giữ vai trò trung tâm tạo ra giá trị vật chất, tạo việc làm và đóng góp cho an sinh xã hội.

ndo_tr_z8019243117448-7bc58aee3b78b18b7bff30f02479d71a.jpg
Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam phát biểu khai mạc

Kính thưa quý vị đại biểu!

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; là lực lượng tiên phong thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 68, chúng ta đã chứng kiến sự bừng lên của khát vọng làm giàu và khởi sự kinh doanh mạnh mẽ chưa từng có.

Năm 2025, cả nước có thêm gần 297.500 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động với tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 27,4% về số lượng doanh nghiệp và tăng 77,8% về số vốn so với năm 2024. Sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 169,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay lại thị trường, tăng 11,2%; tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 3,1 triệu tỷ đồng, tăng 11,3%. Xu hướng bứt phá này của kinh tế tư nhân có thể được coi là nền tảng cốt lõi, là bệ phóng để chúng ta hướng tới mục tiêu xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới và mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với khoảng 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc đến từ thể chế kinh tế, những khó khăn trong tiếp cận đất đai, vốn, phát triển thị trường… Để doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm của tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số, yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, giảm mạnh chi phí tuân thủ và tháo gỡ các điểm nghẽn để kích hoạt nhanh và mạnh động lực tăng trưởng từ khu vực doanh nghiệp tư nhân. Theo đó, mọi chính sách đều phải hướng tới doanh nghiệp ở các chiều cạnh: Tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển và tham gia kiến tạo cùng Nhà nước trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng hạ tầng và quản trị quốc gia. Doanh nghiệp giờ đây không còn là đối tượng quản lý mà phải thực sự trở thành đối tác kiến tạo, đồng hành cùng sự phát triển.

Kính thưa quý vị đại biểu!

Chủ đề của Hội thảo hôm nay: Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp đặt ra những vấn đề rất có ý nghĩa và rất đúng thời điểm đối với sự phát triển bứt phá của đất nước hiện nay.

Trước những vấn đề đặt ra, Báo Nhân Dân phối hợp với Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam tổ chức Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” nhằm kiến tạo nền tảng đối thoại và kết nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu chính sách, chuyên gia kinh tế để làm rõ những vấn đề cấp bách đang đặt ra trong quá trình triển khai Nghị quyết 68 vào cuộc sống và thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh một cách hiệu quả, thực chất. Từ đó đề xuất những giải pháp quyết liệt phát huy tối đa tiềm lực kinh tế tư nhân, biến nguồn lực này thành động lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ 2026-2030 nói chung.

Chủ đề của Hội thảo hôm nay: Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp đặt ra những vấn đề rất có ý nghĩa và rất đúng thời điểm đối với sự phát triển bứt phá của đất nước hiện nay. Đó là cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh; đặt kinh tế tư nhân vào trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Có thể nói, đây là con đường ngắn nhất, nhanh nhất để hoàn thiện thể chế, cải cách môi trường kinh doanh, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và củng cố niềm tin cho người dân, doanh nghiệp.

Thông qua 2 phiên thảo luận, cơ quan quản lý, chuyên gia kinh tế, đại diện doanh nghiệp và các doanh nhân sẽ cùng dành tâm huyết luận bàn, kiến nghị giải pháp trọng tâm về phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy Nghị quyết 68 đi vào cuộc sống thực chất hơn nữa, đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số và xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới.

Ý kiến tâm huyết của quý vị sẽ được ghi nhận, tổng hợp, chắt lọc, chuyển tải đến các cơ quan chức năng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, góp phần đẩy nhanh quá trình thể chế hóa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Đồng thời lan tỏa rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, hướng đến mục tiêu xây dựng một môi trường kinh doanh thông thoáng, an toàn và giàu động lực.

Với tinh thần đó, thay mặt đơn vị tổ chức, tôi xin tuyên bố khai mạc “Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp”.

Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các quý vị đại biểu, các vị khách quý đến dự hội thảo ngày hôm nay.

Chúc sức khỏe các quý vị và chúc hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!

Đồng chí Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam:

Kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với khát vọng rất lớn và yêu cầu rất cao. Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Đó là yêu cầu chiến lược để Việt Nam tạo đủ nguồn lực phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, vượt qua nguy cơ tụt hậu, tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

ndo_tr_z8019243136833-9dd667e191681c1c5a862b7d36b3ab1e.jpg
Đồng chí Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội thảo.

Nhưng để đạt được tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể chỉ trông chờ vào những động lực cũ. Chúng ta cần một cách tiếp cận mới, quyết liệt hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn. Theo tôi, con đường ngắn nhất để đi tới tăng trưởng hai con số không phải là một con đường tắt. Đó là con đường khơi thông các nguồn lực đang bị nghẽn; giải phóng sức sản xuất; tạo niềm tin cho doanh nghiệp; và biến khu vực kinh tế tư nhân thành động lực phát triển mạnh mẽ, bền vững của nền kinh tế.

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đó. Lần đầu tiên, kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đây là một bước phát triển rất lớn về tư duy, nhận thức và chính sách. Điều này không chỉ khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: doanh nghiệp tư nhân, doanh nhân Việt Nam được tin tưởng, được kỳ vọng và được trao sứ mệnh lớn hơn trong tiến trình phát triển đất nước.

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 68, chúng ta đã thấy nhiều chuyển động tích cực. Tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp được nhấn mạnh hơn. Nhiều chương trình đối thoại, xúc tiến thương mại, hỗ trợ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp đã được triển khai. Niềm tin của doanh nghiệp từng bước được củng cố. Khát vọng làm giàu chính đáng, khát vọng vươn lên của đội ngũ doanh nhân Việt Nam được khơi dậy mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở chủ trương, mà nằm ở khâu thực thi. Doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn từ thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành, quy định chồng chéo, thiếu ổn định và thiếu khả năng dự báo. Vì vậy, nếu nói về dư địa tăng trưởng lớn nhất của Việt Nam trong giai đoạn tới, tôi cho rằng đó chính là cải cách thể chế. Cải cách thể chế ở đây không chỉ là sửa một vài thủ tục, cắt một vài giấy phép, hay giảm một vài điều kiện kinh doanh về mặt số lượng. Điều quan trọng hơn là phải thay đổi cách tiếp cận: Từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo; từ tiền kiểm nặng nề sang hậu kiểm dựa trên rủi ro; từ “không quản được thì cấm” sang quản lý thông minh, minh bạch và có trách nhiệm giải trình.

Cải cách điều kiện kinh doanh phải là cải cách thực chất. Doanh nghiệp không chỉ cần ít giấy phép hơn, mà cần một môi trường kinh doanh dễ hiểu hơn, ổn định hơn, dự đoán được hơn. Việc rà soát pháp luật cũng cần được thực hiện từ góc nhìn của doanh nghiệp, theo chuỗi hoạt động kinh doanh: Từ thành lập, đầu tư, đất đai, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu, hoàn thuế, kiểm tra chuyên ngành cho tới giải quyết tranh chấp và giải thể. Chỉ khi đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, chúng ta mới thấy hết các điểm nghẽn đang làm chậm dòng chảy của đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Cải cách điều kiện kinh doanh phải là cải cách thực chất. Doanh nghiệp không chỉ cần ít giấy phép hơn, mà cần một môi trường kinh doanh dễ hiểu hơn, ổn định hơn, dự đoán được hơn. Việc rà soát pháp luật cũng cần được thực hiện từ góc nhìn của doanh nghiệp, theo chuỗi hoạt động kinh doanh: Từ thành lập, đầu tư, đất đai, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu, hoàn thuế, kiểm tra chuyên ngành cho tới giải quyết tranh chấp và giải thể. Chỉ khi đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, chúng ta mới thấy hết các điểm nghẽn đang làm chậm dòng chảy của đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Đồng chí Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Thưa quý vị,

Bên cạnh cải cách thể chế, tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải đặt doanh nghiệp vào trung tâm của chiến lược phát triển. Doanh nghiệp là nơi biến chính sách thành sản phẩm, biến nguồn lực thành việc làm, biến ý tưởng thành đổi mới sáng tạo, biến cơ hội thị trường thành tăng trưởng thực tế. Không có một cộng đồng doanh nghiệp mạnh, chúng ta khó có thể có một nền kinh tế mạnh. Không có những doanh nghiệp tư nhân đủ lớn, đủ năng lực cạnh tranh, đủ khát vọng vươn ra thị trường quốc tế, chúng ta khó có thể xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng.

Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra cho doanh nghiệp cũng rất lớn. Doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ chờ đợi chính sách thuận lợi hơn. Bản thân doanh nghiệp cũng phải đổi mới mạnh mẽ hơn. Phải nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, tuân thủ pháp luật, đầu tư cho công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nhân lực và xây dựng văn hóa kinh doanh có trách nhiệm. Trong giai đoạn mới, doanh nghiệp nào chỉ dựa vào chi phí thấp sẽ rất khó cạnh tranh. Doanh nghiệp nào biết dựa vào năng suất, công nghệ, chất lượng, thương hiệu và năng lực quản trị sẽ có cơ hội đi xa hơn.

Với vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam, VCCI sẽ tiếp tục làm tốt hơn nữa vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước các cơ quan hoạch định chính sách với cộng đồng doanh nghiệp; lắng nghe, tổng hợp, phản ánh kịp thời các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn; tham gia phản biện chính sách; thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Đồng chí Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VCCI nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình trong tiến trình này. Với vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam, VCCI sẽ tiếp tục làm tốt hơn nữa vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước các cơ quan hoạch định chính sách với cộng đồng doanh nghiệp; lắng nghe, tổng hợp, phản ánh kịp thời các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn; tham gia phản biện chính sách; thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Chúng tôi cũng mong muốn hội thảo hôm nay không chỉ dừng lại ở việc trao đổi nhận thức chung, mà phải đi vào các vấn đề rất cụ thể. Cắt giảm điều kiện kinh doanh đã thực chất chưa? Những thủ tục nào đang làm chậm đầu tư, sản xuất, xuất khẩu? Làm thế nào để doanh nghiệp tư nhân thực sự trở thành trung tâm của chiến lược tăng trưởng? Đây là những câu hỏi cần được trao đổi thẳng thắn, với tinh thần xây dựng và hành động. Tôi đặc biệt đánh giá cao việc hội thảo lựa chọn hai nội dung thảo luận rất phù hợp và rất thời sự: Cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh  kinh tế tư nhân là trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Đây không chỉ là hai chủ đề của hội thảo, mà cũng là hai chìa khóa quan trọng để mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế trong thời gian tới đây.

Thưa quý vị,

Với tinh thần đó, tôi tin tưởng rằng hội thảo hôm nay sẽ là một diễn đàn đối thoại cởi mở, thẳng thắn và trách nhiệm; sẽ ghi nhận được nhiều ý kiến sâu sắc từ các cơ quan quản lý, chuyên gia, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp; qua đó góp phần hình thành những kiến nghị chính sách có giá trị, phục vụ mục tiêu cải cách thể chế, phát triển kinh tế tư nhân và thúc đẩy tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.

Một lần nữa, thay mặt VCCI, tôi xin trân trọng cảm ơn Báo Nhân Dân đã đồng hành tổ chức hội thảo; cảm ơn các đồng chí lãnh đạo ban bộ ngành, các chuyên gia, các doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan báo chí đã tham dự.

Xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Chúc Hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn!

Đồng chí Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại hội thảo:

Kính thưa đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí chủ trì hội thảo,

Thưa các đồng chí đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học tham dự hội thảo,

Hôm nay, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương rất trân trọng cảm ơn Ban tổ chức đã bố trí mời Ban tham dự hội thảo, theo chúng tôi đánh giá là rất có ý nghĩa.

Vừa qua, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Bộ Chính trị đã dự cuộc họp đánh giá 6 tháng của Chính phủ và các địa phương. Tới đây, trong phiên họp sơ kết 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Chính trị sẽ nghe báo cáo của Đảng đoàn Chính phủ về đánh giá tình hình 6 tháng qua và các vấn đề kinh tế của 6 tháng cuối năm. Đáng chú ý, trong kỳ họp Trung ương tới, vào ngày 20/7 này, Trung ương sẽ thảo luận chi tiết các nội dung liên quan.

ndo_tr_mr-hien-2.jpg
Đồng chí Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại hội thảo

Chúng tôi cho rằng các ý kiến của hội thảo trao đổi ngày hôm nay sẽ bổ sung thêm các đánh giá khách quan được chia sẻ dưới lăng kính của các cơ quan truyền thông, VCCI, cũng như doanh nghiệp để nhìn nhận những vấn đề về tăng trưởng 6 tháng qua cũng như là đặt ra kế hoạch trong 6 tháng tới. Đặc biệt, như đồng chí Tổng Biên tập và đồng chí Chủ tịch VCCI đã nhấn mạnh tập trung vào hai vấn đề chính là cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh và định vị rõ vai trò của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng. Tôi thấy đây là nhận định hết sức đúng đắn. Do đó, Ban Chính sách Chiến lược Trung ương mong muốn hội thảo sẽ đi vào bản chất thực sự để đóng góp thêm cho các giải pháp mà chúng tôi đang tổng hợp, thu thập trong báo cáo tham mưu chung.

Thứ nhất, trong ban hành Kết luận 18, Ban chúng tôi xây dựng đề án tích hợp vào trong kế hoạch kinh tế-xã hội. Vì vậy, nó đã được cụ thể thành bộ tiêu chí với khoảng 52 chỉ tiêu và 92 nhiệm vụ cần thực hiện trong năm 2026. Trong đó, đề cập rất rõ tới 11 nhóm giải pháp và đầy đủ. Kết luận 18 cũng xác định cải cách một cách thực chất về thể chế môi trường đầu tư kinh doanh với yêu cầu là cắt giảm toàn diện gồm: Một là các bộ, ngành cắt giảm tối thiểu khoảng 30% thủ tục hành chính. Hai là các dự án đầu tư công giảm 30-40% ở cả Trung ương và địa phương. Trong thực tế, vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành cũng rất quyết liệt trong thực hiện Kết luận 18 này. Báo cáo công khai của Chính phủ cũng nêu rõ, từ tháng 4 đến tháng 6, Chính phủ đã ban hành 257 văn bản quy phạm pháp luật, ban hành 11 quyết định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo ước tính của Chính phủ, riêng Bộ Tài chính đã giảm 53% thời gian, 55% chi phí tuân thủ với chi phí khoảng 23.000 tỷ.

Thứ hai, trọng tâm của Kết luận 18 là tháo gỡ các dự án tồn đọng, vướng mắc mà Bộ Chính trị đã chủ trương. Kể cả giai đoạn Luật Đất đai 2024 và Luật Đất đai trước đều có chỉ đạo. Đến nay, theo báo cáo, tổng số dự án cập nhật đến tháng 6 là khoảng 4.492 dự án có vướng mắc, trong đó, 1.531 dự án được tháo gỡ, 2.248 dự án đã có chủ trương phương hướng, như vậy, chúng ta mới tháo gỡ được khoảng 1/3.

Thứ ba, Kết luận 18 yêu cầu phải điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ vừa bảo đảm kinh tế vĩ mô vừa thúc đẩy tăng trưởng. Hiện nay, con số thống kê đến ngày 16/6/2026, tín dụng ngân hàng đang có dư nợ khoảng 19,8 triệu tỷ, tăng 6,41% so với cùng kỳ năm trước nhưng huy động chỉ tăng 4,45%. Trong khi đó, trái phiếu mới đạt được khoảng 35,6% kế hoạch. Tính đến ngày 17/6/2026, mới huy động trái phiếu doanh nghiệp khoảng 178,2 nghìn tỷ.

Về số lượng doanh nghiệp, theo con số thống kê công bố, 6 tháng đầu năm có 111,077 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nhưng đồng thời trong số đó cũng có tới 151,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 18,8% tương đương khoảng 89% số doanh nghiệp gia nhập. Như vậy so sánh số liệu trên, chúng ta chỉ khuyến khích thêm được khoảng 11%, chưa phải là cao. Cũng theo thống kê, điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đa số doanh nghiệp thể hiện sự lạc quan về kinh doanh tốt hơn so với quý I với 36,3% doanh nghiệp đánh giá tình hình tốt hơn.

Nhân dịp hội thảo lần này, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương mong muốn được lắng nghe các ý kiến trao đổi, thảo luận và đề xuất, kiến nghị. Liên quan tới cắt giảm thủ tục, đơn giản hóa quy trình thủ tục, nếu nhìn về số lượng chúng ta đều thấy rõ, Trung ương thực hiện quyết liệt trong cắt giảm. Tuy nhiên, cũng cần phải trả lời rõ ràng cho câu hỏi “Việc cắt giảm các thủ tục và chi phí tuân thủ này đã thực chất chưa?”.

ndo_tr_mr-hien.jpg

Trong hội thảo này, chúng tôi mong muốn được lắng nghe và ghi nhận các chia sẻ thẳng thắn, về mặt triển khai cắt giảm thủ tục, các gạch đầu dòng có giảm nhưng thực chất các nội dung giảm chưa đáng kể. Do đó, rất mong quý vị đại biểu và doanh nghiệp phân tích, đánh giá chi tiết tại hội thảo hôm nay. Thêm nữa, tư tưởng phân cấp về địa phương hoàn toàn đúng, nhưng mà sự chuyển dịch của địa phương đã đáp ứng chưa cũng như đánh giá việc không thực thi tại địa phương đến nay như thế nào. Theo chỉ đạo của Trung ương, việc đánh giá phải đo đếm được cụ thể nhưng hiện các địa phương chưa có đánh giá cụ thể đã đạt mức tối thiểu 30% chưa, chi phí tuân thủ đến đâu và quy trình thế nào. Đây cũng chính là nội dung Ban chúng tôi cũng rất mong muốn được quý vị chia sẻ, đặc biệt là các hiệp hội, các doanh nghiệp tham dự hội thảo ở đây.

Chúng ta cũng thấy rằng, 7 địa phương có tăng trưởng mục tiêu cao và vượt hai con số thì cũng 7 địa phương đó có năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), các thủ tục hành chính đều thuộc nhóm tốt nhất. Điều này cho thấy sự tương quan tốc độ tăng trưởng với sự cải thiện môi trường kinh doanh. Chưa có địa phương nào trong số các địa phương tăng trưởng hai con số mà thuộc nhóm có PCI thấp. Cũng chưa có địa phương nào PCI cao mà lại tăng trưởng thấp cả. Do đó, gốc rễ của vấn đề chính là cải thiện khâu thực thi cải thiện môi trường kinh doanh, nhất là ở các địa phương, và đó cũng là nội dung mà chúng tôi rất mong muốn lắng nghe xem đang vướng mắc ở khâu gì, thủ tục gì.

Thêm nữa là đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp thì xem xét đến cơ cấu vốn xã hội trong 6 tháng qua, vốn đầu tư công, vốn ngân sách dẫn dắt là chính, vậy thì “vốn mồi”, dòng vốn của doanh nghiệp lớn là gì? Rất mong hội thảo sẽ chia sẻ thêm, làm rõ hơn về khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân sẽ mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh như thế nào.

Tiếp nữa là sự phối hợp giữa chính sách tài khóa, tiền tệ vừa bảo đảm kinh tế vĩ mổ vừa hỗ trợ tăng trưởng. Không thể phủ nhận áp lực lãi suất tăng trong thời gian qua, dù Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời có các biện pháp điều hành nhưng việc khơi thông các nguồn vốn khác, đặc biệt trên thị trường vốn, rồi qua kênh trái phiếu đã tốt chưa nhất là khi tăng trưởng huy động hiện nay đang thấp hơn so với tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Có rất nhiều mô hình triển khai theo Nghị quyết 68 nhưng triển khai trong thực tế còn chậm. Thí dụ, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đã khảo sát về Misa làm cơ bản liên kết trong “lending” cho vay và họ làm rất tốt, nhưng hiện nay, cơ chế chưa cho phép để mở rộng một cách đầy đủ và đây cũng là thực tế phát sinh cần phải được xử lý. Mặc dù đang nỗ lực sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng vẫn còn thách thức. Vì thế, mong muốn hội thảo trao đổi về khơi thông các nguồn lực, giảm áp lực chi phí vốn để thúc đẩy tăng trưởng gắn ổn định vĩ mô.

ndo_tr_z8019420911819-9a2173a86c301df75f1d02f23fcb779e.jpg
Quang cảnh hội thảo.

Liên quan tới khâu tổ chức thực thi Nghị quyết 68, tại hội thảo này, Bộ Tài chính cũng sẽ có báo cáo đánh giá hơn 1 năm triển khai với đầy đủ thông tin nhưng khâu thực thi vẫn còn chậm. Dịp này, tôi xin nêu ra một số gợi ý mong muốn lắng nghe tại hội thảo này:

Một là, việc khơi thông và thực chất cải thiện môi trường kinh doanh thế nào?

Hai là, vấn đề liên quan đến đặt hàng cơ chế cho doanh nghiệp tư nhân tham gia các dự án trọng điểm quốc gia, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia các chuỗi với doanh nghiệp trong nước dẫn dắt, chủ trương thì có, tại sao lại chậm?

Ba là, cách tiếp cận về cơ chế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, đặc biệt mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ phải thay đổi thế nào? Từ 2017 đến nay gần 10 năm triển khai Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thì phải thẳng thắn thừa nhận rằng, luật này không đi vào cuộc sống do cách tiếp cận có vấn đề.

Cần phải nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị. Thực tế cho thấy, dù Nghị quyết 10 hay Nghị quyết 68 được ban hành với chủ trương rất đúng đắn, nhưng việc đi vào cuộc sống còn nhiều hạn chế. Chúng ta cần định vị rõ cơ chế để các doanh nghiệp lớn đóng vai trò dẫn dắt, kéo theo sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Nếu không có giải pháp căn cơ, các tập đoàn lớn sẽ chiếm lĩnh toàn bộ các khâu từ A đến Z, làm thu hẹp không gian phát triển của khối SME.

Thêm nữa, cải cách hành chính và chuyển đổi số phải đi vào thực chất. Hiện nay, con số báo cáo về tỷ lệ số hóa hay mức độ hài lòng chưa phản ánh đúng thực tế. Quy trình tiếp nhận hồ sơ tại một số cơ quan công quyền còn mang tính hình thức; thời gian xử lý thực tế của người dân và doanh nghiệp kéo dài hơn rất nhiều so với thời điểm hồ sơ được chính thức cập nhật lên hệ thống. Bên cạnh đó, tình trạng hạ tầng phần mềm phân tán, thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương đang gây nghẽn mạch dòng chảy dữ liệu. Chúng ta cần chỉ rõ những điểm nghẽn này thuộc về quy trình hướng dẫn nội bộ hay năng lực thực thi.

Bên cạnh đó, nâng cao năng lực quản trị từ phía doanh nghiệp. Để thích ứng với bối cảnh mới và thụ hưởng hiệu quả các chính sách, bản thân khối doanh nghiệp cũng cần chủ động thay đổi tư duy, cải thiện năng lực quản trị nội bộ.

Dù Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo hết sức quyết liệt, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc lớn vào sự chuyển dịch đồng bộ ở cấp thực thi tại các địa phương và các ngành. Ban Kinh tế Trung ương rất mong muốn lắng nghe những ý kiến phản biện thẳng thắn, khách quan từ các hiệp hội, doanh nghiệp và chuyên gia tại hội thảo hôm nay để tổng hợp, tham mưu cho các cấp có thẩm quyền những giải pháp tháo gỡ thực chất nhất.

Chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn!

Đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Ngân hàng Nhà nước cam kết bảo đảm đủ vốn cho nền kinh tế, tạo động lực tăng trưởng 2 con số

Phát biểu tại hội thảo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời gian qua, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam luôn đồng hành cùng Đảng và Chính phủ, đã và đang khẳng định vị thế của mình trên nhiều lĩnh vực, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng các chiến lược kinh tế, thu hút đầu tư, huy động nguồn lực thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã từng bước điều chỉnh và hoàn thiện nhận thức về thành phần kinh tế tư nhân, xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát huy vai trò doanh nghiệp để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

ndo_tr_mr-canh.jpg
Đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát biểu tại hội thảo.

Chúng ta cũng ghi nhận sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống cơ chế, chính sách. Hàng loạt Nghị quyết trụ cột của Đảng về thúc đẩy phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách thể chế, phát triển khu vực doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, bảo đảm an ninh năng lượng, chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành kim chỉ nam, giải phóng các "điểm nghẽn" thể chế, hạ tầng, huy động nguồn lực, tạo động lực và không gian phát triển thông thoáng nhất cho doanh nghiệp, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên hùng cường và phát triển.

Thực hiện Kết luận số 18/KL-TW về phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2026-2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, Nghị quyết 109/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra nhiệm vụ: “Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ; có chính sách phù hợp, tạo môi trường minh bạch, thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”.

Chủ đề “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” của hội thảo rất có ý nghĩa tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán và đúng đắn của Đảng về việc huy động và phát huy tối đa tiềm lực của cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân và khu vực kinh tế tư nhân trong việc xây dựng, đổi mới đất nước. Điều này mang tính thời điểm sâu sắc khi cả đất nước đang nỗ lực triển khai Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và quyết tâm của Chính phủ về phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới, đưa Việt Nam bứt phá vươn mình.

Với vai trò dẫn dắt nguồn vốn của nền kinh tế, ngành ngân hàng luôn sẵn sàng đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong quá trình triển khai các mục tiêu đã được Đảng và Nhà nước đề ra, đồng thời không ngừng cải cách, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học-công nghệ và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, cơ chế, chính sách tiền tệ-tín dụng nhằm gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngành ngân hàng khơi thông dòng vốn, đồng hành cùng doanh nghiệp

Phát biểu tại hội thảo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh, với vai trò dẫn dắt nguồn vốn của nền kinh tế, ngành ngân hàng luôn sẵn sàng đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong quá trình triển khai các mục tiêu đã được Đảng và Nhà nước đề ra, đồng thời không ngừng cải cách, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học-công nghệ và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, cơ chế, chính sách tiền tệ-tín dụng nhằm gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cụ thể:

Thứ nhất, với vai trò bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô: Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khoá và các chính sách vĩ mô khác, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường kinh doanh ổn định, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Sáu tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần chỉ đạo các ngân hàng thương mại giảm lãi suất, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đến cuối tháng 5/2026, có khoảng hơn 40 ngân hàng thương mại đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết (giảm khoảng 0,1-0,5%/năm), chủ yếu với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Thứ hai, với vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế: Ngành ngân hàng luôn sẵn sàng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay và các dịch vụ ngân hàng an toàn, hiện đại thông qua nhiều giải pháp như:

Hoàn thiện thể chế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Hệ thống pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện: mở rộng cấp tín dụng bằng phương tiện điện tử, chuyển đổi số, ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng góp phần tạo lập môi trường pháp lý đồng bộ, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Quy định 3 giải pháp thử nghiệm bao gồm: (i) Chấm điểm tín dụng; (ii) Chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API); (iii) Cho vay ngang hàng. Các giải pháp được thử nghiệm trong môi trường thật dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý sẽ là cơ hội để đánh giá các rủi ro lợi ích của giải pháp đồng thời là cơ sở để cơ quan quản lý ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chính thức.

Ngày 1/7/2026 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng (Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 của Thống đốc NHNN sửa đổi quy định về tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn từ mức 30% lên 40% và quy định về tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi theo hướng cho phép tính vào tổng tiền gửi 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp triển khai các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.

Về điều hành tín dụng hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:

(i) Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm và luôn điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế (năm 2026 là 15%).

(ii) Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, triển khai các chương trính tín dụng hỗ trợ nông lâm thủy sản, cho vay nhà ở xã hội,..;

(iii) Trong điều hành tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại không tính dư nợ cho vay nhà ở trong đó có đối tượng chủ đầu tư xây dựng dự án nhà ở để bán, cho thuê mua, cho thuê vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại; không tính dư nợ tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với lĩnh vực nhà ở xã hội vào dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng bất động sản;

Gần đây nhất, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các ngân hàng thương mại loại trừ dư nợ cho vay khi tính toán tăng trưởng tín dụng hàng năm đối với các doanh nghiệp thực hiện các công trình dự án có quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng 2 con số;

(iv) Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo ngân hàng thương mại rà soát, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ cấp tín dụng, tài sản bảo đảm... đi đôi với việc tuân thủ các quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, bảo đảm chặt chẽ, an toàn.

Thứ ba, triển khai các giải pháp góp phần phát triển kinh tế tư nhân: Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, trong đó Ngân hàng Nhà nước đã:

(i) Trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định về hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị;

(ii) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026-2030;

(iii) Ban hành Thông tư số 31/2026/TT-NHNN ngày 30/6/2026 quy định về hoạt động cho thuê tài chính trong đó mở rộng danh mục tài sản cho thuê là phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ, dữ liệu;

(iv) Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai gói tín dụng 500 nghìn tỷ đồng cho vay đầu tư hạ tầng, công nghệ số; Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường tài trợ vốn cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng; ưu tiên nguồn vốn tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vay để đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số...; Phối hợp với các ban, bộ, ngành chủ trì xây dựng và triển khai Chương trình vươn ra thị trường quốc tế (Go global); Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026-2030…

Kết quả, đến cuối tháng 6/2026, tín dụng đối với nền kinh tế đã vượt mốc 19,9 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025. Riêng tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân đạt trên 18,2 triệu tỷ đồng, chiếm 92,6% dư nợ toàn nền kinh tế, trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt khoảng 10,5 triệu tỷ đồng, chiếm 53,3% dư nợ toàn nền kinh tế. Trong đó dư nợ đối với doanh nghiệp tư nhân đạt khoảng 9,1 triệu tỷ đồng, chiếm 86,7% dư nợ đối với doanh nghiệp.

Kết quả tín dụng nêu trên cho thấy sự nỗ lực từ ngành ngân hàng để bảo đảm nguồn lực cho doanh nghiệp nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng tham gia phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian qua.

ndo_tr_z8019420911819-9a2173a86c301df75f1d02f23fcb779e.jpg
Quang cảnh hội thảo.

Đồng bộ các giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ, là điều kiện tiên quyết để đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu phải hành động, hành động và hành động; làm việc, làm việc và làm việc; tháo gỡ ngay các điểm nghẽn để thúc đẩy tăng trưởng ít nhất 10%, đồng thời giữ vững kinh tế vĩ mô, khơi thông đầu tư tư nhân và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, khơi thông dòng vốn và môi trường đầu tư cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, là động lực tăng trưởng của nền kinh tế

"Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Chính phủ, hệ thống ngân hàng cam kết sẽ điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, bảo đảm kiểm soát lạm phát, bảo đảm cung ứng đủ vốn đáp ứng cho nền kinh tế, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hùng cường và thịnh vượng của dân tộc", Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh khẳng định.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhu cầu vốn cho tăng trưởng là rất lớn, đặc biệt nhu cầu vốn trung, dài hạn thực hiện các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, đây là một trong những áp lực không nhỏ cho hệ thống ngân hàng; Việc mở rộng tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng còn gặp khó khăn do sức chống chịu, năng lực tài chính và quản trị của doanh nghiệp còn hạn chế, thị trường tiêu thụ chưa phục hồi đồng đều, chi phí sản xuất còn cao, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

Chính vì vậy, bên cạnh các giải pháp của ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cũng đề nghị các đại biểu tại hội thảo trao đổi thảo luận thêm về các nhóm giải pháp nhằm tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh thông thoáng, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát huy được tiềm năng, lợi thế, tiềm lực của mình, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước, cụ thể:

Thứ nhất, tháo gỡ căn bản các rào cản về thể chế, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn nền kinh tế, qua đó thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn, bền vững, nhằm tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn, từng bước giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng; cùng với đó là đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia (kết hợp nhiều nguồn lực như ngân sách nhà nước, vốn tư nhân, hợp tác công-tư, nguồn vốn nước ngoài và các nguồn vốn dài hạn khác).

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Thứ tư, phát huy vai trò của thị trường trong nước, thúc đẩy tiêu dùng và xuất khẩu, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững.

"Ngân hàng Nhà nước cho rằng nhóm giải pháp này, cùng với các nhóm giải pháp triển khai các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị một khi được triển khai đồng bộ và phát huy tác động tích cực trong thực tiễn, kết hợp với nội lực và sự sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, mỗi doanh nhân sẽ giúp khơi thông nguồn lực, tạo ra động lực mới quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tích cực cho mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số cho giai đoạn 2026-2030", Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh bày tỏ.

2aoboqivvoqrqd0kck82k5d3lxr4meuuvq8fjzj2.jpg

Mở đầu phiên thảo luận, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chia sẻ, Đại hội XIV đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng đầy khát vọng: trên 10% cho giai đoạn 2026-2030. Muốn đạt con số này, lực lượng doanh nghiệp tư nhân phải là động lực chính. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể bay cao nếu chân vẫn còn vướng những 'sợi dây xích' là các điều kiện kinh doanh (ĐKKD) rườm rà, chồng chéo, hoặc biến tướng.

Nghị quyết 68-NQ/TW ban hành ngày 4/5//2025 đã nhấn mạnh việc cải thiện môi trường đầu tư. Nhưng thực tế hôm nay, chúng ta cần sòng phẳng nhìn nhận: Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh đã thực chất chưa? Hay cắt điều kiện này lại mọc ra quy chuẩn, tiêu chuẩn khác?

Để mổ xẻ vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng giới thiệu 4 vị khách mời:

z8019485172603-098025d3d357f77319fbd9b509162674.jpg

- Ông Phan Đức Hiếu: Đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội. Ông là chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chính sách kinh tế, pháp luật kinh doanh, cải cách thể chế và phát triển môi trường đầu tư

- Ông Đậu Anh Tuấn: Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI. Ông là chuyên gia uy tín trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư, cải cách thủ tục hành chính và đối thoại chính sách với doanh nghiệp.

- Ông Nguyễn Hoài Nam: Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam – VASEP. Ông là người có nhiều năm gắn bó với lĩnh vực thủy sản, xuất khẩu, hội nhập quốc tế và chính sách phát triển ngành.

- Ông Lê Hoàng Châu: Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (HoREA). Ông là người có nhiều kinh nghiệm trong phản biện chính sách, kiến nghị tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho thị trường bất động sản, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, nhà ở, đầu tư, xây dựng và phát triển đô thị.

Diễn giả

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

 

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

 

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

 

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh

 

TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

 

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước

 

Nội dung Tọa đàm trực tuyến
 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Câu hỏi đầu tiên tôi muốn dành cho ông Đậu Anh Tuấn. Là người “đứng gác” và theo dõi sát sao dòng chảy cải cách hành chính qua các báo cáo PCI, Báo cáo dòng chảy pháp luật hay phản ánh của VCCI. Theo ông, làn sóng cắt giảm điều kiện kinh doanh sau khi có Nghị quyết 68-NQ/TW đến nay đã đi vào thực chất chưa? Doanh nghiệp đã thực sự “dễ thở” hơn, hay chúng ta đang gặp phải tình trạng “cắt ngọn giữ gốc” hoặc chuyển hóa điều kiện kinh doanh thành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đánh đố hơn?

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

Năm nay là dấu mốc đặc biệt khi đất nước kỷ niệm 40 năm công cuộc Đổi mới. Nhìn lại chặng đường phát triển, có thể thấy một quy luật khá rõ: mỗi lần chúng ta mạnh dạn cải cách theo hướng tháo gỡ rào cản, đơn giản hóa thủ tục hành chính và giải phóng các nguồn lực phát triển thì khu vực kinh tế tư nhân đều có bước phát triển mạnh mẽ.

ndo_tr_mr-tuan.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI trao đổi tại phiên thảo luận.

Thực tiễn đã chứng minh điều đó qua nhiều giai đoạn. Luật Doanh nghiệp năm 1999 tạo bước ngoặt về tư duy quản lý đối với doanh nghiệp; Luật Đầu tư năm 2005 cùng chủ trương phân cấp mạnh cho địa phương đã thúc đẩy làn sóng đầu tư mới; giai đoạn 2016-2017, việc quyết liệt bãi bỏ nhiều điều kiện kinh doanh ở cấp thông tư tiếp tục tạo động lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Chính vì vậy, khi Nghị quyết số 68 được ban hành, cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng đây sẽ là một đợt cải cách mạnh mẽ, tạo động lực mới cho khu vực kinh tế tư nhân. Từ góc độ theo dõi và đánh giá, có thể khẳng định quyết tâm cải cách của Chính phủ lần này là rất rõ ràng, với tinh thần cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh được triển khai quyết liệt và nhanh chóng.

Những kết quả bước đầu cho thấy quyết tâm đó bằng các con số cụ thể. Khi sửa đổi Luật Đầu tư, số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện đã giảm từ 227 xuống còn 198. Hiện nay, Chính phủ tiếp tục đặt mục tiêu cắt giảm thêm 56 ngành, nghề, đưa tổng số xuống còn 142. Chỉ trong thời gian ngắn, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết liên quan đến cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính.

Đáng chú ý, những biểu hiện mang tính đối phó trong quá trình thực hiện, như việc gộp hai ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thành một để giảm số lượng một cách cơ học, đều đã được lãnh đạo Chính phủ kiên quyết chấn chỉnh. Điều đó cho thấy yêu cầu cải cách không chỉ dừng ở hình thức mà phải thực chất, hiệu quả.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn triển khai vẫn còn là thách thức lớn. Theo tổng hợp của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), doanh nghiệp vẫn phản ánh khoảng 900 khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Các rào cản hiện nay không chỉ là việc cắt giảm chưa triệt để mà còn xuất hiện dưới nhiều hình thức mới. Có những khoảng trống pháp lý khi quy định cũ đã được bãi bỏ nhưng quy định mới chưa kịp ban hành, khiến cả doanh nghiệp và cơ quan thực thi đều lúng túng trong quá trình áp dụng. Cùng với đó là tình trạng thiếu thống nhất trong cách hiểu và thực hiện pháp luật giữa các địa phương, hoặc sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật.

Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là việc một số điều kiện kinh doanh được chuyển hóa thành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật với yêu cầu quá phức tạp, gây thêm khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rõ chỉ tổ chức đối thoại với doanh nghiệp khi các bộ, ngành đã chuẩn bị đầy đủ phương án giải trình, trả lời cụ thể các kiến nghị. Chỉ đạo này thể hiện yêu cầu nâng cao chất lượng đối thoại, lấy hiệu quả giải quyết vấn đề làm thước đo thay vì chỉ dừng ở hình thức.

Khi quyết tâm cải cách từ Trung ương đã thể hiện rõ bằng những hành động mạnh mẽ, nhanh chóng và thực chất, điều quan trọng hiện nay là quá trình tổ chức thực hiện ở các cấp phải theo kịp tinh thần đó. Chỉ khi cải cách được triển khai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, các chủ trương mới thực sự đi vào cuộc sống, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn và giúp doanh nghiệp giải phóng nguồn lực để phát triển.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Từ góc nhìn phản biện của VCCI, tôi muốn chuyển sang tiếng nói từ thực tiễn của doanh nghiệp. Thưa ông Nguyễn Hoài Nam (VASEP), ngành thủy sản là ngành xuất khẩu mũi nhọn nhưng cũng là ngành chịu áp lực rất lớn từ các quy định kiểm tra chuyên ngành, an toàn thực phẩm, môi trường... Ông có thể đưa ra thí dụ về một vài điều kiện kinh doanh hoặc thủ tục hành chính cụ thể nào hiện nay đang làm khó doanh nghiệp thủy sản nhất, làm chậm nhịp tăng trưởng của các thành viên VASEP?

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)
Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

Ngành xuất khẩu là một trong ba động lực tăng trưởng truyền thống của nền kinh tế, trong đó ngành thủy sản luôn nỗ lực duy trì vai trò của mình. Những kết quả mà ngành đạt được trong thời gian qua là sự nỗ lực của cả cộng đồng doanh nghiệp, người nuôi trồng, khai thác và các bên liên quan.

ndo_tr_mr-nam.jpg
Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) tại phiên thảo luận về cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh

Trong bối cảnh hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp đã cảm nhận rõ những tác động tích cực từ các chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ trong việc tháo gỡ khó khăn, cải cách thể chế. Đây là những cơ hội quan trọng để tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp phát triển.

Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng quá trình xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật vẫn phải thực hiện theo quy trình quy định. Trong thời gian qua, đặc biệt là trong 2 tháng gần đây, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện rà soát, tự cắt giảm các thủ tục, quy định không còn phù hợp. Đây là chủ trương rất tích cực, song theo tôi, quá trình này cần có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng doanh nghiệp để bảo đảm việc cắt giảm thực sự đi vào thực chất.

Chúng tôi rất hào hứng khi thấy có nhiều nghị quyết, chỉ đạo về cắt giảm thủ tục, nhưng khi xem xét các văn bản cụ thể thì vẫn còn cảm giác một số nội dung chưa thực sự giải quyết được những vấn đề doanh nghiệp đang gặp phải.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đã rà soát các quy định liên quan đến ngành và nhận thấy còn nhiều vấn đề cần được tháo gỡ. Trong đó, có những nội dung doanh nghiệp đã nhiều lần phản ánh nhưng chưa được đưa vào quá trình rà soát, cắt giảm.

Thay vì tiếp tục gửi các văn bản theo cách gọi là “kiến nghị tháo gỡ vướng mắc”, Hiệp hội đang chủ động rà soát để đề xuất những điểm cần cải cách, coi đây là những cơ hội để hoàn thiện thể chế, phù hợp với tinh thần Chính phủ đang thúc đẩy.

ndo_tr_z8019485172603-098025d3d357f77319fbd9b509162674.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận 1.

Về vai trò của ngành thủy sản, sau nhiều năm phát triển, thủy sản Việt Nam hiện nằm trong nhóm 3 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Lợi thế lớn nhất của Việt Nam không chỉ nằm ở khai thác, nuôi trồng mà còn ở năng lực chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đáp ứng nhu cầu của những thị trường phát triển. Đây là kết quả của hơn 20 năm nỗ lực của doanh nghiệp, người dân và các cơ quan quản lý.

Năm 2026 ngành thủy sản đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu trên 12 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 10-11%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành đang phải đối mặt với một số điểm nghẽn lớn.

Thứ nhất là chi phí logistics tăng cao. Trong thời điểm đơn hàng xuất khẩu tăng mạnh, chi phí vận chuyển quốc tế cũng tăng đáng kể. Giá cước vận tải biển hiện đã tăng khoảng 20-30%. Một container xuất khẩu sang bờ Tây nước Mỹ trước dịch Covid-19 chỉ khoảng 2.000 USD, sau dịch từng tăng gấp nhiều lần và hiện vẫn ở mức rất cao, có thời điểm gần 10.000 USD/container. Ngành thủy sản mỗi năm xuất khẩu khoảng 1 triệu container. Nếu chi phí vận tải tăng thêm, phần giá trị gia tăng mà doanh nghiệp tạo ra sẽ bị bào mòn rất lớn.

Ngành thủy sản mỗi năm xuất khẩu khoảng 1 triệu container. Nếu chi phí vận tải tăng thêm, phần giá trị gia tăng mà doanh nghiệp tạo ra sẽ bị bào mòn rất lớn.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam - VASEP

Thứ hai là khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng để mở rộng sản xuất, đáp ứng đơn hàng xuất khẩu. Theo ông Nam, khi thị trường có thêm đơn hàng, doanh nghiệp cần thêm vốn để thu mua nguyên liệu từ nông dân, ngư dân. Nếu trước đây doanh nghiệp xuất khẩu 100 container/tháng thì khi đơn hàng tăng lên 150-200 container/tháng, nhu cầu vốn lưu động cũng tăng tương ứng.

Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận phần tín dụng tăng thêm vẫn còn khó khăn, kể cả đối với những doanh nghiệp có uy tín, có kim ngạch xuất khẩu lớn. Ở góc độ doanh nghiệp, đây là một vấn đề rất thực tế. Có đơn hàng, có thị trường nhưng nếu không có đủ vốn để thu mua nguyên liệu thì rất khó tận dụng được cơ hội.

Thứ ba là những vướng mắc trong thủ tục, quy định liên quan đến xuất khẩu thủy sản. Để xuất khẩu một lô hàng thủy sản, doanh nghiệp phải hoàn thiện nhiều loại giấy tờ, với nhiều xác nhận, thủ tục liên quan. Trong khi các thị trường nhập khẩu như châu Âu, Hoa Kỳ có những yêu cầu cụ thể về chống khai thác bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi biển, thì quá trình thực hiện tại Việt Nam còn liên quan đến nhiều quy định từ luật, nghị định đến thông tư, dẫn đến phát sinh nhiều thủ tục.

Thí dụ, về quy định phân vùng khai thác thủy sản, theo Luật Thủy sản năm 2017, vùng biển được phân thành vùng bờ, vùng lộng và vùng khơi, với quy định tương ứng về loại tàu được phép khai thác. Tuy nhiên, trong thực tế, đặc điểm khai thác của từng loại hải sản lại không hoàn toàn phụ thuộc vào kích thước tàu.

Có những tàu có đủ điều kiện hoạt động xa bờ nhưng loại hải sản khai thác lại phù hợp với vùng biển khác. Khi doanh nghiệp thu mua nguyên liệu từ ngư dân, dù đã kiểm tra, bảo đảm các điều kiện cần thiết, nhưng đến bước hoàn thiện hồ sơ xác nhận để xuất khẩu lại gặp vướng mắc.

Doanh nghiệp có thể đã mua hàng trăm tấn nguyên liệu, đưa vào kho, nhưng khi làm thủ tục để xuất khẩu lại không hoàn thiện được hồ sơ. Đây là những vấn đề rất cụ thể cần được tháo gỡ để không làm mất cơ hội tăng trưởng của ngành.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Từ những ví dụ rất thực tế mà các đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp đã chỉ ra, rõ ràng rào cản từ đăng ký kinh doanh đang làm tăng chi phí cơ hội của doanh nghiệp. Thưa ông Phan Đức Hiếu, với tư cách là đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đồng thời là người có nhiều năm nghiên cứu sâu sắc về thể chế kinh tế. Nguyên nhân của những điểm nghẽn khi triển khai cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh hiện nay. Và lỗ hổng nằm ở tư duy làm luật hay ở khâu giám sát thực thi?

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Cần thành lập Tổ công tác đặc biệt giải quyết vướng mắc thực hiện điều kiện kinh doanh.

Trước hết, cần phải khẳng định thể chế vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế-xã hội, đặc biệt là với doanh nghiệp. Thể chế tốt sẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp. Nhìn lại chặng đường 20 năm, cần phải ghi nhận những kết quả đáng kể ở 3 khía cạnh:

Tư duy cải cách thể chế đã được thể hiện rất rõ và mạnh mẽ trong thời gian vừa qua, đặc biệt ở thời điểm hiện tại. Trước đây tư duy định hướng cải cách đôi khi chỉ dừng lại ở các cuộc thảo luận, nhưng nay đã được ghi nhận rõ nét trong các định hướng chủ trương, nghị quyết cụ thể của Quốc hội và Chính phủ.

ndo_tr_z8019485180279-c100f84bfb74d03b72a2e915c3074e05.jpg

Về cơ chế thực hiện, Quốc hội đã có những sáng kiến về cải cách thể chế, điển hình là Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về “Cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật” cho phép có những cơ chế đặc thù trong việc sửa đổi, bổ sung các luật khi có phát sinh mâu thuẫn, vướng mắc bằng hình thức nghị quyết.

Và đến nay, kết quả đạt được đáng ghi nhận. Rất nhiều luật pháp được cải cách mạnh mẽ; nhiều hành vi, điều kiện kinh doanh và giấy phép kinh doanh được cắt giảm.

Bên cạnh đó, vẫn tồn tại các vấn đề và thách thức cốt lõi hiện nay. Cần khẳng định rằng cải cách thể chế là một quá trình liên tục, bám sát sự vận động của kinh tế-xã hội chứ không phải "làm một lần là xong". Khó khăn hiện tại nằm ở 2 điểm:

Thách thức thứ nhất đến từ việc thiết kế chính sách đến hành động thực tế. Việc đưa các định hướng tư duy biến thành điều luật cụ thể vẫn là một thách thức rất lớn. Ví dụ: Tư duy định hướng yêu cầu "thể chế phải kiến tạo thúc đẩy", nhưng khi xây dựng một quy định cụ thể thì rất khó để định nghĩa thế nào là thúc đẩy mà không vô tình tạo ra các giấy phép con hoặc điều kiện kinh doanh mới.

Thách thức thứ hai hai là vấn đề thực thi trên thực tế. Cùng một văn bản luật, nhưng có sở, ngành, địa phương thực hiện được, trong khi nơi khác lại gặp khó khăn vướng mắc. Điều này chứng minh điểm nghẽn nằm ở khâu thực thi chứ không chỉ ở văn bản.

Để giải quyết các thách thức trên, cần tập trung các giải pháp căn bản.

Thay đổi tư duy bằng kỹ thuật lập pháp, tức là hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay mỗi luật thường chỉ điều chỉnh một vấn đề của một bộ ngành, đứng ở góc độ bộ ngành thì hợp lý. Nhưng một dự án thực tế của doanh nghiệp phải trải qua nhiều bước, liên quan nhiều bộ ngành. Khi ghép chung lại sẽ gây ra tình trạng thừa, trùng lặp hoặc thủ tục rườm rà không cần thiết. Sắp tới nên gộp một số luật lại với nhau để tính hệ thống cao hơn. Về văn bản hướng dẫn, hiện tại mỗi nghị định hướng dẫn một luật nên dễ trùng lặp. Thay vào đó, đối với cùng một vấn đề (ví dụ: dự án đầu tư), Chính phủ nên ban hành một nghị định duy nhất hướng dẫn nhiều luật.

Giải pháp thứ hai, cần nhấn mạnh cơ chế giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thực thi. Khi vướng mắc xảy ra, doanh nghiệp không biết phải "kêu" ai, cơ chế lắng nghe và giải quyết chưa hiệu quả. Vì vậy, cần thành lập một Tổ công tác đặc biệt có địa chỉ cụ thể, gồm các chuyên gia ở địa phương hoặc trung ương. Tổ này không chỉ có nhiệm vụ ghi nhận mà phải có thẩm quyền lắng nghe và xử lý trực tiếp các vướng mắc về thủ tục cho doanh nghiệp và người dân. Qua đó, người dân biết rõ ai đang xử lý và xử lý như thế nào, giúp cán bộ thực thi cũng yên tâm hơn.

Bài học từ 20 năm qua chỉ ra, khi cắt giảm điều kiện kinh doanh, bắt buộc phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ để tránh tình trạng các điều kiện kinh doanh mới ra đời dưới hình thức khác, khiến những thứ đã cắt giảm lại "quay trở lại".

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Thưa ông Đậu Anh Tuấn, để hiện thực hóa mục tiêu hội thảo là tạo động lực tăng trưởng từ doanh nghiệp. VCCI sẽ có những kiến nghị hành động cụ thể nào lên Chính phủ ngay sau hội thảo này để việc triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW tạo ra một cuộc bứt phá thực chất, chứ không chỉ dừng lại ở các báo cáo số liệu đẹp trên giấy?

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

Để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp phát triển và góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo tôi cần tập trung vào hai nhóm giải pháp trọng tâm.

Trước hết là tiếp tục nâng cao chất lượng thể chế, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật. Trong bối cảnh khối lượng văn bản cần ban hành rất lớn, trong khi thời gian chuẩn bị nhiều trường hợp khá gấp, việc bảo đảm chất lượng toàn diện là một thách thức không nhỏ.

ndo_tr_mr-tuan.jpg

Thực tế cho thấy, quy trình xây dựng pháp luật hiện nay đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Tuy nhiên, đơn vị trực tiếp soạn thảo thường là các cục, vụ thuộc cơ quan quản lý nhà nước. Điều này đặt ra yêu cầu phải có cơ chế bảo đảm tính khách quan trong quá trình xây dựng chính sách, bởi các cơ quan quản lý, xét về chức năng và nhiệm vụ, thường có xu hướng duy trì phạm vi quản lý của mình, trong khi những đề xuất cắt giảm quyền hạn hoặc tăng trách nhiệm của cơ quan quản lý lại không dễ được chủ động đặt ra.

Vì vậy, theo tôi, cần có những giải pháp mang tính căn cơ ngay từ khâu xây dựng chính sách. Trước hết, cần nâng cao tính độc lập trong quá trình đề xuất chính sách, bảo đảm các quyết sách được xây dựng trên cơ sở lợi ích chung của nền kinh tế và quốc gia, thay vì chỉ từ góc độ quản lý của từng ngành, từng lĩnh vực.

Bên cạnh đó, cần có quyết tâm cải cách mạnh mẽ đối với các lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Chẳng hạn, trong hoạt động thông quan, hiện nay nhiều bộ, ngành cùng thực hiện kiểm tra chuyên ngành, dẫn đến tình trạng phân tán, chồng chéo và làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Việc tiếp tục rà soát, đơn giản hóa và tập trung đầu mối kiểm tra chuyên ngành sẽ góp phần giảm đáng kể gánh nặng về thủ tục hành chính.

Nhóm giải pháp thứ hai là đổi mới cơ chế thực thi và thiết lập kênh tiếp nhận, xử lý phản ánh của doanh nghiệp thực chất, hiệu quả hơn.

Qua thực tiễn, có thể thấy khâu thực thi đang là một trong những điểm nghẽn lớn. Không ít doanh nghiệp khi gặp khó khăn vẫn chưa biết phản ánh với cơ quan nào hoặc việc tiếp nhận, xử lý kiến nghị còn kéo dài, thiếu hiệu quả.

Có trường hợp doanh nghiệp gửi kiến nghị lên lãnh đạo địa phương nhưng sau đó văn bản lại được chuyển về sở, ngành và cuối cùng giao chính cho đơn vị hoặc cán bộ đang trực tiếp giải quyết vụ việc xem xét. Quy trình như vậy rất khó tạo được sự khách quan, đồng thời làm mất thêm thời gian, chi phí và cơ hội phát triển của doanh nghiệp.

ndo_tr_z8019485172603-098025d3d357f77319fbd9b509162674.jpg

Theo tôi, cần xây dựng một cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin độc lập, minh bạch, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp trong việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi các kiến nghị của doanh nghiệp trên cơ sở khách quan, kịp thời.

Cùng với đó, có thể nghiên cứu nhân rộng những mô hình hỗ trợ doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Mô hình "Bác sĩ doanh nghiệp" từng được triển khai tại Bắc Ninh là một ví dụ đáng tham khảo. Thông qua cơ chế này, các chuyên gia trực tiếp lắng nghe, phân tích những khó khăn mà doanh nghiệp đang gặp phải và đề xuất giải pháp phù hợp, góp phần tháo gỡ vướng mắc ngay từ cơ sở.

Một vấn đề quan trọng khác là cần hoàn thiện cơ chế khuyến khích đối với đội ngũ thực thi công vụ. Hệ thống quản lý cần được thiết kế theo hướng khi doanh nghiệp, ngành hàng phát triển thì những người trực tiếp thực thi chính sách cũng được ghi nhận, đánh giá xứng đáng. Ngược lại, nếu vẫn tồn tại cơ chế khiến việc gây khó khăn cho doanh nghiệp không bị xử lý hoặc thậm chí tạo ra lợi ích cho người thực thi thì rất khó xây dựng được một môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng và minh bạch.

Tôi cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, cùng với quyết tâm cải cách thể chế, cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng tổ chức thực thi. Chỉ khi xây dựng được một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, đồng thời hình thành bộ máy thực thi thực sự đồng hành, lắng nghe và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thì các nguồn lực phát triển mới được khơi thông và chuyển hóa thành động lực tăng trưởng bền vững.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Nếu phải kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất hiện nay thì anh đề xuất những giải pháp gì?

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh

Trước hết, tôi tán thành ý kiến của anh Đậu Anh Tuấn về việc nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật. Tôi cũng tán thành ý kiến của anh Hiếu về việc cần nâng cao chất lượng giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát chuyên đề của Quốc hội và phải bảo đảm hoạt động giám sát thực chất.

Đối với chúng tôi, tôi xin đề xuất ba giải pháp.

Giải pháp thứ nhất là tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thời gian vừa qua.

Tuy nhiên, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh phải đi đôi với việc xây dựng quy trình thực hiện. Lần đầu tiên Quốc hội đã quy định quy trình thực hiện dự án nhà ở ngay trong Luật Nhà ở. Mặc dù chưa thật sự hoàn chỉnh, nhưng đây là bước tiến rất quan trọng khi luật đã quy định ngay ba giai đoạn của một dự án.

Giải pháp thứ hai là tiếp tục phân cấp mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt là phân cấp thẩm quyền từ các bộ, ngành về địa phương và nhất là cấp xã.

Tuy nhiên, tôi cũng xin báo cáo với các đồng chí lãnh đạo là hiện nay cấp xã đang quá tải và còn thiếu đội ngũ cán bộ có chuyên môn. Đây là vấn đề mà Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã chỉ đạo cần sớm giải quyết. Chúng ta phải tiếp tục phân cấp, đồng thời xây dựng mô hình đơn vị hành chính đặc thù đối với các đô thị đặc biệt để trong thời gian tới có thể giải quyết hầu hết công việc ngay tại cơ sở, chủ yếu ở cấp xã.

ndo_tr_z8019485172603-098025d3d357f77319fbd9b509162674.jpg

Giải pháp thứ ba là nâng cao năng lực thực thi pháp luật.

Bởi vì trong quá trình thực thi, điều chúng tôi gặp khó khăn nhất là giai đoạn chưa được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ hoặc chấp nhận hồ sơ. Ở giai đoạn này không xác định được trách nhiệm của cơ quan nào. Hồ sơ của doanh nghiệp bị trả đi trả lại nhiều lần nhưng không ai chịu trách nhiệm. Nhiều trường hợp chúng tôi mất rất nhiều thời gian mới hoàn thiện được hồ sơ, thậm chí có những việc chỉ được giải quyết khi gặp trực tiếp ở một nơi khác.

Đây là vấn đề cần được tính toán để khắc phục. Theo tôi, cần đồng thời thực hiện cả ba giải pháp nêu trên.

Ngoài ra, tôi xin kiến nghị thêm một nội dung, đó là cần bảo đảm đời sống của đội ngũ cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức phải có nhà ở, có thu nhập đủ để sống bằng lương. Hiện nay, mức thu nhập của nhiều cán bộ vẫn chưa bảo đảm cuộc sống, đây là vấn đề chúng ta cũng cần quan tâm.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Xin chuyển câu hỏi tiếp theo đến anh Châu.
Anh là người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản. Xin anh chia sẻ những điểm nghẽn về điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính đang làm chậm sự phát triển của thị trường bất động sản cũng như việc cung ứng nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho thuê - một chủ trương lớn hiện nay của Đảng và Nhà nước.

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh

Kính thưa anh Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân; kính thưa anh Nguyễn Ngọc Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; kính thưa các đồng chí lãnh đạo, các vị đại biểu, các diễn giả và toàn thể quý vị.

Trước hết, tôi xin cảm ơn Báo Nhân Dân đã phối hợp tổ chức hội thảo hôm nay.

Có lẽ bất động sản là lĩnh vực cảm nhận rõ nhất tác động của chủ trương xác định đột phá về thể chế pháp luật là đột phá hàng đầu trong ba đột phá chiến lược. Chúng tôi cũng rất cảm ơn VCCI vì trong thời gian qua đã có nhiều đóng góp đối với việc hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế tư nhân.

Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và cùng với các nghị quyết trụ cột khác, cộng đồng doanh nghiệp bất động sản rất phấn khởi và tin tưởng. Chúng tôi nhận thấy cải cách thể chế là giải pháp có chi phí thấp nhất nhưng hiệu quả bao trùm nhất.

ndo_tr_mr-chau.jpg
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (HoREA) phát biểu tại phiên thảo luận 1.

Đối với lĩnh vực bất động sản, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với chủ trương sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Sau đó là Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cùng với Nghị quyết 68 và hàng loạt nghị quyết của Quốc hội đã được ban hành để tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Có thể kể đến các nghị quyết liên quan đến đất đai, nhà ở xã hội, đặc biệt là Nghị quyết số 170 (Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội: Cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa) về xử lý các tồn tại, vướng mắc. Theo chúng tôi, đây là nghị quyết rất cụ thể, có tính khả thi cao, đến mức Chính phủ chỉ cần ban hành nghị định hướng dẫn với một số nội dung, chứ không phải quy định chi tiết lại toàn bộ.

Điều đó cho thấy cải cách thể chế phải bắt đầu từ luật. Còn nghị định và các văn bản dưới luật chủ yếu là để tổ chức thực hiện.

Sáng nay, tôi đọc Báo Nhân Dân thấy đăng trang nhất bài về kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm liên quan đến hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi pháp luật. Tôi cho rằng chủ đề này rất phù hợp với nội dung hội thảo hôm nay.

Đồng thời, Báo Đại biểu Nhân dân cũng có bài viết cho rằng giữa chính sách và thực thi phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn khoảng cách. Điều đó cho thấy chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm trong cải cách thủ tục kinh doanh.

Riêng đối với lĩnh vực bất động sản, điểm nghẽn đầu tiên là thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.

Theo quy định hiện hành, hầu hết các dự án đều phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư. Tuy nhiên, sau đó doanh nghiệp tiếp tục phải thực hiện lại nhiều nội dung tương tự ở các sở, ngành chuyên môn. Điều này dẫn đến tình trạng trùng lặp thủ tục.

Hiện nay, đối với dự án nhà ở xã hội đã có thay đổi theo hướng thực hiện theo Luật Nhà ở thay vì Luật Đầu tư. Một số dự án đặc thù cũng được áp dụng theo luật chuyên ngành. Do đó, chúng tôi kiến nghị tiếp tục nghiên cứu để xem xét có thực sự cần duy trì thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư hay không, hay nên giao nội dung này cho các luật chuyên ngành.

Điểm nghẽn thứ hai là thủ tục trong lĩnh vực xây dựng. Thí dụ trước đây, các dự án có công trình cấp I, như công trình từ 25 tầng trở lên, đều phải đưa ra Bộ Xây dựng để thẩm định. Gần đây, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 34/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng: Quy định chi tiết về cấp công trình xây dựng phục vụ quản lý hoạt động xây dựng, đây là bước cải cách rất tích cực.

Chúng tôi cũng ghi nhận Bộ Công an đã bãi bỏ một số thủ tục về kiểm tra nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, trong lĩnh vực xây dựng vẫn còn thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình của chủ đầu tư. Theo chúng tôi, nội dung này cũng cần tiếp tục rà soát để cắt giảm.

Thực tế, hơn 20 năm trước đã từng áp dụng cơ chế xã hội hóa, trong đó chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu chịu trách nhiệm về chất lượng công trình. Nếu vi phạm thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Sau này lại bổ sung thêm thủ tục kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, dẫn đến vừa tăng gánh nặng cho cơ quan quản lý, vừa kéo dài thời gian thực hiện dự án.

ndo_tr_z8019485172603-098025d3d357f77319fbd9b509162674.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận 1.

Đối với Luật Đất đai, hiện vẫn còn nhiều vướng mắc.

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai trong đó cho phép áp dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền sử dụng đất đối với một số trường hợp. Đây là một giải pháp rất quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho các địa phương.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn địa phương chưa áp dụng đầy đủ quy định này. Trong khi đó, nghị quyết của Quốc hội cũng đã quy định rõ trường hợp đến ngày 1/7/2026 địa phương chưa ban hành đầy đủ các căn cứ để xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hoặc bồi thường, giải phóng mặt bằng thì được áp dụng cơ chế chuyển tiếp theo quy định.

Có thể nói, lĩnh vực bất động sản đang phản ánh đầy đủ nhất những vướng mắc về thể chế pháp luật cũng như quy trình, thủ tục hành chính.

Theo chúng tôi, quy trình và thủ tục đều bắt nguồn từ quy định của pháp luật. Vì vậy, muốn cải cách thực chất thì trước hết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời nâng cao chất lượng tổ chức thực thi ở các địa phương.

Nếu phân tích đầy đủ thì còn rất nhiều nội dung khác. Xin phép được dừng tại đây.

Xin chúc hội thảo thành công.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Chúng ta đã chỉ ra được 'bệnh', giờ là lúc tìm 'thuốc cắt cơn' và điều trị dứt điểm. Quay trở lại với ông Phan Đức Hiếu. Từ phía Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất, trong giai đoạn 2026-2030 này, chúng ta sẽ có những cơ chế giám sát tối cao hoặc những bộ lọc thể chế mạnh mẽ như thế nào để ngăn chặn từ sớm, từ xa việc ban hành các thông tư, nghị định cài cắm điều kiện kinh doanh làm khó doanh nghiệp?

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Chuyển mạnh sang cơ chế giám sát nội dung

Về sự thay đổi trong chủ trương giám sát của Quốc hội, đối với câu chuyện cải cách thể chế như hiện nay, chủ trương của Quốc hội sẽ thay đổi về chất trong câu chuyện về giám sát.

ndo_tr_z8019485180279-c100f84bfb74d03b72a2e915c3074e05.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận 1.

Trước đây, việc giám sát thường tập trung vào việc khi một văn bản luật được ban hành thì các nghị định hướng dẫn thi hành có được ban hành đầy đủ không? Có kịp thời gian không?

Theo chủ trương mới, sẽ giám sát mạnh mẽ hơn nữa về mặt nội dung. Sắp tới đây, ngay cả ở Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội và Quốc hội đều đã có chủ trương chuyển mạnh sang giám sát xem các văn bản hướng dẫn thi hành như vậy có thực sự đúng tinh thần cải cách của luật hay chưa? Có đặt thêm ra các thủ tục khác không?

Tôi cũng suy nghĩ về kênh phản biện thông tin của Quốc hội. Tức là không chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận thông tin, phản ánh theo con đường giải quyết khiếu nại, tố cáo như các kênh truyền thống trước đây. Việc xử lý kiến nghị bài bản hơn. Các kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp cần phải được nghiên cứu, tập hợp một cách bài bản để từ đó Quốc hội có ý kiến sang các cơ quan thực thi như Chính phủ và các bộ, ngành.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Nếu được chọn một 'nút thắt' thể chế về điều kiện kinh doanh cần được cởi trói ngay lập tức trong tháng này để doanh nghiệp tự tin tăng tốc đầu tư, theo ông Nguyễn Hoài Nam đó sẽ là nút thắt nào?

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)
Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

Chính phủ và Bộ Nông nghiệp-Môi trường đặt mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp lên mức 100 tỷ USD, trong đó ngành thủy sản phấn đấu đạt khoảng 15-16 tỷ USD, thì điều đó đồng nghĩa với việc sản xuất phải tăng lên, đơn hàng nhiều hơn và năng lực cung ứng cũng phải được mở rộng tương ứng.

ndo_tr_mr-nam.jpg

Với mục tiêu như vậy, theo tôi, ngành thủy sản đang có một chùm điểm nghẽn cần được tháo gỡ đồng bộ.

Điểm nghẽn đầu tiên là vấn đề tín dụng. Khi đơn hàng tăng, doanh nghiệp cần thêm vốn để thu mua nguyên liệu từ nông dân, ngư dân, mở rộng sản xuất, nhưng việc tiếp cận phần vốn tăng thêm hiện vẫn còn nhiều khó khăn.

Doanh nghiệp có cơ hội, có đơn hàng, nhưng nếu không có đủ vốn để thu mua nguyên liệu, đáp ứng sản xuất thì rất khó tận dụng được cơ hội đó.

Điểm nghẽn thứ hai là nguồn lao động. Tại các vùng tập trung sản xuất, chế biến thủy sản ở khoảng 30 tỉnh, thành phố có ngành thủy sản phát triển, tình trạng thiếu lao động đang diễn ra rất rõ rệt.

Đây là một thực trạng mà chúng tôi cho rằng cần phải báo cáo, bởi khi sản xuất tăng lên thì vấn đề lao động sẽ trở thành một trong những yếu tố quyết định khả năng mở rộng của doanh nghiệp.

Điểm nghẽn thứ ba là chi phí vận tải biển đang ở mức rất cao. Nếu không có giải pháp giảm chi phí logistics, giá trị mà doanh nghiệp tạo ra sẽ tiếp tục bị bào mòn. Chúng ta đang làm ra giá trị, nhưng nếu chi phí vận tải biển quá lớn thì phần giá trị đó sẽ đi đâu? Đây là vấn đề rất cần được quan tâm đối với một quốc gia xuất khẩu như Việt Nam.

Điểm nghẽn thứ tư là các thủ tục xác nhận nguyên liệu phục vụ xuất khẩu. Việc phân cấp thực hiện các thủ tục xác nhận về địa phương là cần thiết, nhưng trong quá trình triển khai vẫn còn những vướng mắc khiến nguyên liệu của doanh nghiệp chưa thể nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ để xuất khẩu.

Bốn vấn đề mà chúng tôi thấy cần được quan tâm hiện nay là tín dụng, lao động, chi phí vận tải biển và thủ tục xác nhận nguyên liệu. Nếu tháo gỡ được những điểm nghẽn này, ngành thủy sản sẽ có thêm dư địa để phát triển, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp và nền kinh tế.

 
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng:

Liên quan tới thắc mắc của địa diện VASEP, đề nghị phía Ngân hàng Nhà nước có giải đáp bổ sung. Xin cảm ơn.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước
Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước

Kính thưa các quý vị đại biểu,

Trong phiên thảo luận về chủ đề "Cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh", dù các đại biểu ít đề cập đến hoạt động ngành ngân hàng, tôi xin phép có một số ý kiến phản hồi và chia sẻ thông tin liên quan đến ý kiến của anh Nguyễn Hoài Nam (Tổng Thư ký VASEP) về những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngành nông, lâm, thủy sản.

Thứ nhất, về chính sách tín dụng ưu tiên của ngành ngân hàng: Nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu luôn là các lĩnh vực được Đảng, Nhà nước và Chính phủ định hướng ưu tiên, đồng thời là trụ cột tăng trưởng kinh tế.

Chính phủ đã ban hành Nghị định riêng về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chính sách này đã vận hành hơn 20-30 năm qua và liên tục được hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung để sát với thực tiễn.

Đối với ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, sau giai đoạn khó khăn năm 2023, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai gói tín dụng ưu đãi. Quy mô ban đầu của gói này là 15.000 tỷ đồng, nhưng đến nay đã có 5 lần tăng quy mô, đạt tổng doanh số giải ngân trên 168.000 tỷ đồng (gấp nhiều lần quy mô ban đầu).

Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên này hiện được Ngân hàng Nhà nước điều hành ở mức thấp (tối đa 4%/năm), thấp hơn mặt bằng chung của các lĩnh vực thông thường.

Thứ hai, về thực trạng dư nợ tín dụng:

Tính đến nay, tổng dư nợ tín dụng cho khối doanh nghiệp xuất khẩu đạt khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, chiếm gần 23% tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế. Đây là tỷ trọng rất lớn.

Các doanh nghiệp xuất khẩu (đặc biệt là doanh nghiệp mang lại nguồn ngoại tệ và nguồn thu ổn định) luôn là đối tượng khách hàng ưu tiên được các ngân hàng thương mại cạnh tranh, săn đón.

Do đó, để giải quyết dứt điểm và thực chất các kiến nghị về khó khăn trong tiếp cận vốn, thay vì chỉ nêu phản ánh chung, Ngân hàng Nhà nước đề nghị:

Hiệp hội (VASEP) cung cấp danh sách cụ thể các doanh nghiệp xuất khẩu đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh nhưng đang gặp khó khăn, vướng mắc tại các ngân hàng nào.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiến hành rà soát, chỉ đạo trực tiếp. Ngân hàng thương mại nào không đáp ứng, không cân đối nguồn vốn cho doanh nghiệp đủ điều kiện sẽ phải chịu trách nhiệm trước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

2aoboqiutghgfc0abutn8z6wqptn740dq5ohxei8.jpg

Ông Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế, xã hội và môi trường (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) điều hành phiên thảo luận.

Theo ông Bùi Văn Huyền, nếu như ở Phiên 1, chúng ta đã bàn rất kỹ về việc 'cởi trói' thể chế và cắt giảm điều kiện kinh doanh, thì ở Phiên 2 này, chúng ta sẽ cùng thảo luận về một định vị mang tính chiến lược: Đưa kinh tế tư nhân thực sự trở thành trung tâm của chiến lược tăng trưởng.

Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên cho giai đoạn 2026-2030 theo tinh thần Đại hội XIV không cho phép chúng ta đi theo những lối mòn cũ. Kinh tế tư nhân không còn là khu vực 'đóng góp thêm' hay 'hỗ trợ', mà phải là lực lượng dẫn dắt, tạo ra năng lực cạnh tranh quốc gia, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Để tìm lời giải cho bài toán lớn này, tôi xin trân trọng giới thiệu 4 vị diễn giả tham gia phiên thảo luận hôm nay:

- Ông Bùi Anh Tuấn: Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính). Ông là người trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và hoàn thiện các văn bản luật liên quan đến doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và đặc biệt là Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển kinh tế tư nhân.

- Bà Nguyễn Minh Thảo: Trưởng Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính). Bà là chuyên gia uy tín trong lĩnh vực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp, nghiên cứu và trực tiếp tham mưu các chiến lược phát triển kinh tế vĩ mô.

- Ông Tô Hoài Nam: Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Ông là nhân tố chủ chốt trong việc thúc đẩy phát triển cộng đồng doanh nghiệp cũng như tham gia xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý kinh tế tại Việt Nam.

- Bà Trần Thị Thu Trang: Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, nữ doanh nhân có nhiều kinh nghiệm trong quản trị doanh nghiệp, sản xuất công nghiệp, phát triển bền vững và thúc đẩy thương hiệu Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Diễn giả

TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)

TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)

 

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)

 

Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa

 

Bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

 

PGS.TS Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế, Xã hội và Môi trường (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương

PGS.TS Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế, Xã hội và Môi trường (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương

 

Nội dung Tọa đàm trực tuyến
 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền:

Câu hỏi đầu tiên tôi muốn dành cho bà Nguyễn Minh Thảo. Thưa bà, là người nhiều năm nghiên cứu và trực tiếp tham mưu các chiến lược phát triển kinh tế vĩ mô, bà đánh giá như thế nào về cụm từ 'Kinh tế tư nhân là trung tâm của chiến lược tăng trưởng' trong bối cảnh hiện nay? Với nội lực và 'sức khỏe' hiện tại của khối doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, chúng ta cần những cú hích hay những thay đổi mang tính bước ngoặt nào về mặt tư duy chiến lược để họ thực sự gánh vác được mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)
TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)

Trong bối cảnh như hiện nay, với mục tiêu tăng trưởng là hai con số thì vai trò của doanh nghiệp luôn luôn là quan trọng. Bởi vì không có doanh nghiệp thì chúng ta không thể có động lực, không thể khơi thông nguồn lực làm cho tăng trưởng.

ndo_tr_ms-thao.jpg

Vai trò trung tâm của kinh tế tư nhân của chiến lược tăng trưởng thể hiện sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam; đây là định hướng chiến lược nhằm tạo động lực tăng trưởng mới. Đường lối, chủ trương của Đảng đã khẳng định rõ: kinh tế tư nhân giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững thì động lực trung tâm là sự phát triển lớn mạnh của khu vực doanh nghiệp, trong đó then chốt là khu vực kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp tư nhân vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn đan xen về thể chế như văn bản pháp luật và tổ chức thực thi; gánh nặng thủ tục hành chính còn nặng nề; bối cảnh thị trường và áp lực chi phí tăng cao; năng lực cạnh tranh nội tại của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.

Vì vậy, với trọng trách và vai trò trung tâm tạo động lực cho thực hiện chiến lược tăng trưởng của cả nước, cần có các giải pháp đột phá và thực chất để tạo “cú hích” cho khu vực kinh tế này.

Trước hết, cần thay đổi tư duy, chuyển từ quản lý sang kiến tạo môi trường chính sách cho phát triển doanh nghiệp. Thực hiện nghiêm nguyên tắc “không quản đc thì cấm”, thiết lập nền tảng thể chế cởi mở, khuyến khích động lực đầu tư, kinh doanh. Đi kèm với đó là cơ chế theo dõi, giám sát thực hiện nguyên tắc này trên thực tiễn.

Trên thực tế, doanh nghiệp không chỉ cần chính sách ưu đãi; doanh nghiệp cần môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, thông thoáng, giảm gánh nặng thủ tục, chi phí tuân thủ thấp. Tôi cho rằng, cần khẩn trương hiện thực hóa các phương án về cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính; gắn với thực hiện thực chất chuyển đổi số và sự đồng hành của chính quyền. Thu hẹp khoảng cách từ chính sách đến thực thi.

Cùng với đó, tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ và tạo động lực đổi mới sáng tạo; từ đó tạo nền tảng để doanh nghiệp đóng góp cho tăng trưởng bứt phá.

Cuối cùng, hỗ trợ để doanh nghiệp tuân thủ các tiêu chuẩn, yêu cầu mới như tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc...

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền:

Cảm ơn bà Nguyễn Minh Thảo. Để nhìn nhận rõ hơn về cấu trúc và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tôi muốn nghe ý kiến từ ông Tô Hoài Nam. Thưa ông, các nghiên cứu gần đây Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ ra điều gì về xu hướng phát triển của khối tư nhân? Chúng ta đang đối mặt với thực trạng doanh nghiệp tư nhân 'ngại lớn', quy mô nhỏ và vừa chiếm đa số, và tỷ lệ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn khiêm tốn. Vậy làm sao để chúng ta nuôi dưỡng được các 'con sếu đầu đàn' tư nhân, đồng thời nâng tầm năng lực cho khối SME?

Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo tôi, để khu vực doanh nghiệp tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng, trước hết cần nhìn đúng xu hướng phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay.

Có thể thấy ba xu hướng chuyển đổi đang diễn ra khá rõ. Thứ nhất, doanh nghiệp đang từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên sang phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thứ hai, từ cách làm đơn lẻ, tự phát sang chủ động tham gia các hệ sinh thái và chuỗi giá trị. Thứ ba, từ tư duy tuân thủ pháp luật một cách thụ động sang chủ động xây dựng hệ thống quản trị bài bản, nâng cao năng lực quản trị và minh bạch trong hoạt động. Đây cũng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn các nguồn lực, nhất là nguồn vốn tín dụng.

Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam "không chịu lớn" hoặc "ngại lớn". Tuy nhiên, qua quá trình làm việc với cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước, tôi cho rằng nhận định này chưa phản ánh đúng thực tế. Doanh nghiệp Việt Nam chưa bao giờ thiếu khát vọng phát triển hay ý chí vươn lên.

Điều doanh nghiệp băn khoăn không phải là quy mô lớn hơn, mà là những rủi ro và chi phí phát sinh khi mở rộng hoạt động. Khi doanh nghiệp phát triển, áp lực về chi phí tuân thủ, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các quy định pháp luật cũng gia tăng. Vì vậy, điều doanh nghiệp cần nhất không chỉ là các chính sách hỗ trợ, mà là một môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, minh bạch và an toàn để có thể yên tâm đầu tư dài hạn.

Tôi cũng cho rằng không nên nhìn doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa như hai khu vực tách biệt. Đây là mối quan hệ gắn bó và bổ trợ lẫn nhau. Muốn hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh, những "sếu đầu đàn" của nền kinh tế thì trước hết phải tạo điều kiện để hàng triệu doanh nghiệp nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa, từ doanh nghiệp vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là đầu tư cho lực lượng doanh nghiệp lớn của tương lai.

Để các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Chính phủ thực sự đi vào cuộc sống, tôi cho rằng trong quá trình xây dựng chính sách cần đặc biệt coi trọng tính khả thi. Mỗi quy định mới cần trả lời rõ ba câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ mất bao nhiêu thời gian để thực hiện? Chi phí tuân thủ là bao nhiêu? Và quy định đó có thực sự đơn giản, phù hợp với thực tiễn để doanh nghiệp có thể thực hiện được hay không? Chỉ khi giải quyết được những vấn đề đó, thể chế mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, qua đó tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số.

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền:

Bàn về năng lực tham gia chuỗi giá trị và công nghiệp phụ trợ, chúng ta có một đại diện rất tiêu biểu ở đây. Xin hỏi bà Trần Thị Thu Trang (Hanel PT) - một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất linh kiện, công nghệ phụ trợ quốc tế. Thưa bà, để một doanh nghiệp tư nhân Việt Nam bứt phá, trở thành mắt xích quan trọng của các tập đoàn toàn cầu và đóng góp thực chất vào tăng trưởng công nghiệp, bà đã phải vượt qua những thách thức lớn nào? Doanh nghiệp tư nhân hiện nay đang cần những chính sách bệ đỡ cụ thể nào về công nghệ, nguồn nhân lực hay tín dụng xanh để tự tin chuyển mình?

Bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Doanh nghiệp chúng tôi trải qua 26 năm phát triển và hiện nay đã trở thành nhà cung cấp cấp một trực tiếp cho các tập đoàn lớn trên thế giới. Gần đây, chúng tôi đã ký hợp đồng cung cấp cho cả các công ty trong ngành bán dẫn của Mỹ, bên cạnh các đối tác Nhật Bản.

ndo_tr_z8019795030227-0a81e2b2a5bb5fb5897eb550d8cd1d6c-1.jpg

Hiện nay, chúng tôi có 3 mảng hoạt động chính. Thứ nhất là chế tạo PCB và các mạch điều khiển - bộ não trong các thiết bị. Thứ hai là sản xuất các bộ giảm nhiệt, chiller làm lạnh cho thiết bị bán dẫn. Thứ ba là sản xuất máy móc phục vụ ngành nông nghiệp. Ba lĩnh vực này đều mang theo khát vọng của tuổi trẻ khi chúng tôi bắt đầu khởi nghiệp cách đây 26 năm.

Tôi nghĩ rằng điều khó nhất đối với một doanh nghiệp không phải trước tiên là một sự hỗ trợ nào đó, mà quan trọng nhất là phải có khát vọng. Để một doanh nghiệp Việt Nam có thể bán hàng trực tiếp cho các tập đoàn nước ngoài là điều không hề đơn giản. Bởi các tập đoàn Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc) đều đã có những nhà cung cấp rất ổn định. Vậy mình phải có gì khác biệt để họ lựa chọn mình thay vì tiếp tục mua từ những nhà cung cấp quen thuộc?

Điều đó có nghĩa là trước khi cần đến bất kỳ sự hỗ trợ nào, bản thân mỗi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới mỗi ngày, phải xây dựng được năng lực cạnh tranh quốc tế, chứ không chỉ cạnh tranh ở sân nhà.

Hiện nay, trong Hiệp hội của chúng tôi đang có chương trình tập hợp những doanh nghiệp đã trở thành nhà cung cấp cấp một cho các tập đoàn nước ngoài, để chia sẻ kinh nghiệm, lan tỏa kiến thức cho các doanh nghiệp khác, giúp họ có thể từng bước trở thành nhà cung cấp cấp một.

Nếu nói về khó khăn, trước hết vẫn là sự nỗ lực của chính doanh nghiệp. Người Việt Nam rất thông minh, nhưng điều chúng ta còn thiếu là sự đổi mới liên tục và tinh thần học hỏi. Chúng tôi may mắn là đã biết cách tìm kiếm những điều mình chưa có, kể cả việc bỏ kinh phí để mời chuyên gia nước ngoài về tư vấn. Trong 26 năm qua, nhờ sự hỗ trợ từ trong nước và quốc tế, chúng tôi mới có thể đạt được kết quả như hôm nay.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có thêm nhiều doanh nghiệp tạo ra những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành những doanh nghiệp cung cấp cấp một trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo tôi, đây là thời điểm rất quan trọng. Nếu không làm ngay thì sẽ bỏ lỡ cơ hội, bởi chuỗi cung ứng toàn cầu đang được phân chia lại trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động. Đây chính là cơ hội cho Việt Nam.

Năm nay, doanh nghiệp chúng tôi dự kiến tăng trưởng khoảng 150%. Trong bối cảnh rất nhiều khó khăn, chúng tôi vẫn tăng trưởng bởi các nhà mua hàng toàn cầu đang đặt niềm tin vào Việt Nam, đang tìm kiếm những đối tác như chúng tôi. Nếu trong điều kiện bình thường, có lẽ chúng tôi cũng chưa có cơ hội tham gia sâu vào lĩnh vực bán dẫn. Nhưng khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc, Việt Nam có cơ hội tham gia và chúng tôi cũng có cơ hội bước vào lĩnh vực này.

Tôi mong muốn rằng Việt Nam sẽ có thêm nhiều nhà cung cấp cấp một cho các tập đoàn lớn, bởi hiện nay số lượng doanh nghiệp như vậy còn rất ít. Chúng ta vừa có Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời cũng có định hướng phát triển đội ngũ doanh nghiệp tiên phong, trong đó mục tiêu phát triển khoảng 500-1.000 nhà cung cấp cấp một là rất quan trọng.

Theo tôi, với nguồn lực có hạn, chúng ta cần tập trung nhanh chóng vào những doanh nghiệp có tiềm năng để nâng tầm họ. Khi những doanh nghiệp này phát triển, tỷ lệ nội địa hóa sẽ tăng lên, đồng thời họ sẽ kéo theo hàng chục, hàng trăm doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng cùng phát triển.

Nếu không hành động nhanh, chúng ta có thể bỏ lỡ cơ hội vàng trong khoảng 1-3 năm tới, hoặc xa hơn là 5 năm tới.

Tôi rất mong muốn thông qua hội thảo hôm nay, chúng ta có thể thúc đẩy mạnh hơn vấn đề này.

Một cách làm cụ thể là khi đã chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mỗi tỉnh, thành phố cần có mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể về số lượng doanh nghiệp có khả năng trở thành nhà cung cấp cấp một.

Không nên chỉ đưa ra một chính sách chung, bởi mỗi địa phương chỉ cần có khoảng 20-30 doanh nghiệp tiềm năng cũng đã là một lực lượng rất quan trọng. Cần tập trung làm việc trực tiếp với doanh nghiệp để biết họ cần gì. Đó có thể là đất đai với chi phí hợp lý, nguồn vốn với chi phí thấp hơn, hay những điều kiện để mở rộng sản xuất.

Chúng ta cần nuôi dưỡng và nâng đỡ những doanh nghiệp này để họ trở thành lực lượng tiên phong trên thị trường quốc tế, từ đó kéo theo sự phát triển của nhiều doanh nghiệp khác.

ndo_tr_z8019724088275-4b143725db85dbb7d64f0648453a7a99.jpg

Một đề xuất nữa của tôi là chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận trong thu hút đầu tư nước ngoài. Trong 40 năm qua, Việt Nam đã rất thành công trong thu hút FDI, đặc biệt thành tựu rõ nét trong khoảng 20 năm gần đây. Nhưng điều chúng ta còn thiếu là sự kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI.

Thí dụ, riêng ngành điện tử của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu khoảng 160 tỷ USD, chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng xuất khẩu của cả nước. Bắc Ninh cũng là một địa phương có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu. Nhưng chúng ta cần đặt câu hỏi: Có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đang là nhà cung cấp cấp một, cấp hai trực tiếp cho các doanh nghiệp FDI ngay tại Việt Nam?

Chúng ta cần đồng thời thực hiện hai việc: vừa thu hút FDI, vừa nâng tầm doanh nghiệp Việt Nam để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Không thể chỉ kỳ vọng doanh nghiệp FDI tự tìm đến doanh nghiệp trong nước, mà cần có cơ chế, chính sách kết nối hai khu vực này.

Bản thân doanh nghiệp chúng tôi cũng đã thay đổi cách tiếp cận. Khoảng 17 năm trước, chúng tôi chủ yếu bán hàng cho doanh nghiệp FDI ở nước ngoài vì hướng tới xuất khẩu. Nhưng từ khoảng năm thứ 18 trở đi, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào việc cung cấp cho các doanh nghiệp FDI ngay tại Việt Nam. Chúng tôi nghĩ rằng nếu ngay trên sân nhà mình còn chưa bán được hàng thì việc đi ra nước ngoài cạnh tranh sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

Hiện nay, chúng tôi chủ yếu cung cấp cho các doanh nghiệp FDI đã đầu tư nhà máy tại Việt Nam, và điều đó tạo ra sự gắn kết lớn hơn với hệ sinh thái sản xuất trong nước.

Cuối cùng, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tôi cho rằng chúng ta cần một chiến lược và một bộ công cụ đào tạo, phát triển đội ngũ doanh nghiệp cấp một, cấp hai, cấp ba.

Chúng ta cần tập hợp các chuyên gia trong và ngoài nước, những doanh nghiệp đã có kinh nghiệm nhiều năm trong chuỗi cung ứng quốc tế, xây dựng thành bộ tài liệu chuẩn và đào tạo, hỗ trợ những doanh nghiệp có tiềm năng xuất khẩu.

Bởi đội ngũ có khả năng bán hàng quốc tế chính là lực lượng kéo theo sự phát triển của doanh nghiệp, góp phần giải quyết nhiều bài toán lớn như tăng trưởng hai con số, nâng cao năng suất và vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Tôi mong muốn 3 nhóm giải pháp trên sẽ được quan tâm, thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong thời gian tới để tạo thêm nhiều doanh nghiệp tư nhân có khả năng vươn ra toàn cầu.

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền

Mong bà Nguyễn Minh Thảo cho biết những nguyên tắc cốt lõi khi thiết kế giải pháp cải cách điều kiện kinh doanh?

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)
TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)

Ba nguyên tắc cốt lõi khi thực hiện cải cách điều kiện kinh doanh

Mục tiêu chung mà các quốc gia trên thế giới hướng tới khi cải cách, gồm có ba nguyên tắc cốt lõi bao gồm: thứ nhất là giảm thời gian; thứ hai là giảm chi phí; và thứ ba là giảm thiểu rủi ro, nhằm hướng tới xây dựng một môi trường kinh doanh an toàn. Tôi cho rằng đây chính là những nguyên tắc xuyên suốt mà chúng ta cần phải tiếp tục kiên trì theo đuổi.

ndo_tr_ms-thao.jpg

Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng khác chính là sự đồng hành của Chính phủ và chính quyền các địa phương. Nhìn lại quá khứ, chúng ta từng có những giai đoạn mà cộng đồng doanh nghiệp vô cùng hứng khởi. Đó là thời điểm rất nhiều cuộc đối thoại, nhiều hoạt động gặp gỡ giữa chính quyền và doanh nghiệp được tổ chức thường xuyên. Tại các diễn đàn ấy, mọi kiến nghị, phản hồi của doanh nghiệp đều thực sự được lắng nghe.

Tôi đánh giá đây là những kinh nghiệm thực tiễn rất quý báu mà chúng ta cần tiếp tục duy trì, phát huy nhằm tạo ra thêm nhiều không gian kết nối để doanh nghiệp sẵn sàng sẻ chia. Thực tế đã chứng minh, thông qua các cuộc đối thoại trực tiếp tại hội nghị, lãnh đạo các bộ, ngành đã thẳng thắn cam kết: văn bản quy phạm pháp luật nào ban hành sai hoặc có sai sót thì văn bản đó sẽ lập tức được sửa đổi, điều chỉnh nhằm bảo đảm giải quyết triệt để các vấn đề vướng mắc cho doanh nghiệp.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng những diễn đàn đối thoại trực diện như thế này cần được tăng cường tổ chức nhiều hơn nữa. Bởi khi đó, bên cạnh ba trụ cột cốt lõi của môi trường kinh doanh mà chúng ta vừa đề cập, các không gian đối thoại này sẽ tạo ra sự cộng hưởng, tiếp thêm luồng sinh khí và tinh thần hứng khởi mạnh mẽ cho cộng đồng doanh nghiệp.

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền:

Động lực quan trọng nhất của doanh nghiệp tư nhân là gì?

Bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ thế hệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Tôi xin chia sẻ từ chính câu chuyện của doanh nghiệp mình. Nếu nói về động lực phát triển của doanh nghiệp Việt Nam, tôi nghĩ rằng bản chất mỗi người Việt Nam đều có lòng yêu nước rất sâu sắc. Nhìn lại trong các thời kỳ phát triển của đất nước, tôi vẫn thường chia sẻ tại nhiều diễn đàn rằng để doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển thần kỳ, chúng ta cần tạo ra một “cú hích” đủ mạnh.

Cú hích đó phải đến từ văn hóa của đất nước, từ niềm tự hào dân tộc và từ khoa học công nghệ. Nếu chúng ta chưa thúc đẩy được những yếu tố cốt lõi này thì rất khó tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ cho đất nước.

ndo_tr_z8019766619523-ce664a97fe9a4bd368b5f424baa84dda.jpg

Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ như chúng tôi, quá trình phát triển có rất nhiều khó khăn. Nhưng mỗi khi gặp khó khăn, chúng tôi luôn nghĩ rằng mình đang làm điều này để thế hệ sau có thể tiếp tục kế thừa và phát triển. Tôi rất mong muốn chúng ta có thêm nhiều thế hệ doanh nhân như vậy.

Chúng ta không nhất thiết phải đặt nặng việc họ đang làm ngành nghề gì, quan trọng là phải tạo được những điểm bứt phá, những “điểm nổ” để thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy rằng bất kỳ khó khăn nào cũng có thể vượt qua nếu doanh nghiệp còn niềm tin vào sự phát triển và còn khát vọng vươn ra thị trường thế giới.

Tôi xin dành một phút cuối để chia sẻ về một số điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ.

Thứ nhất là vấn đề lao động. Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp công nghệ như chúng tôi đang gặp khó khăn về nguồn nhân lực. Có doanh nghiệp từng hỏi tôi liệu có thể đưa lao động từ châu Phi sang Việt Nam hay không. Sau khi tìm hiểu quy định pháp luật, tôi được biết hiện nay việc này còn rất hạn chế, chủ yếu chỉ phù hợp với lao động kỹ thuật, còn lao động phổ thông thì chưa có cơ chế rõ ràng.

Trong khi đó, nhiều quốc gia như Nhật Bản trước đây khi thiếu lao động đã có chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài. Việt Nam cũng cần nghiên cứu, xây dựng chính sách phù hợp về vấn đề này. Bởi trong bối cảnh doanh nghiệp chưa thể tự động hóa hoàn toàn, thiếu lao động sẽ là một điểm nghẽn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tăng trưởng.

z8016292134646-760d3720b93c01f5f86531ebe952c13d.jpg

Đây là một vấn đề tưởng như nhỏ nhưng nếu tháo gỡ được sẽ giúp rất nhiều doanh nghiệp trong nước có thêm điều kiện để phát triển.

Thứ hai là cần thay đổi tư duy trong thực thi chính sách. Các cấp lãnh đạo đã có chủ trương rất đúng, nhưng ở cấp thực thi, một bộ phận cán bộ vẫn còn tâm lý e ngại, sợ làm sai sẽ bị xử lý. Điều này vô hình trung làm giảm sự chủ động trong việc hỗ trợ doanh nghiệp.

Chúng ta cần tạo một môi trường mà cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển chung.

Thứ ba là một vấn đề khá tế nhị. Trước đây, tôi từng chia sẻ rằng trong cộng đồng doanh nghiệp tư nhân có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động chưa chuẩn về sổ sách. Vì vậy, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang có tâm lý lo sợ.

Chúng ta cần xử lý đúng đối tượng: chống hàng giả, chống gian lận, chống những hành vi sai phạm là hoàn toàn đúng. Nhưng đồng thời cũng cần tạo niềm tin để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Nhiều doanh nghiệp khi gặp tôi đều chia sẻ rằng họ rất kỳ vọng vào tinh thần của Nghị quyết 68, trong đó nhấn mạnh việc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế. Nhưng nếu trên thực tế vẫn còn tâm lý xử lý theo hướng hình sự hóa thì doanh nghiệp sẽ càng e ngại, không dám đầu tư mở rộng.

Đây là điều tôi muốn chia sẻ như một tiếng nói từ cộng đồng doanh nghiệp tư nhân.

Cuối cùng, tôi cho rằng, các nghị quyết hiện nay đã rất đúng hướng. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần tập trung tổ chức triển khai thật hiệu quả để những chủ trương đó đi vào thực tiễn, tạo động lực mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

 
Bạn đọc Báo Nhân Dân

Để công tác rà soát điều kiện kinh doanh ẩn đi vào thực chất, mô hình và cơ chế vận hành của 'đơn vị giám sát độc lập' nên được thiết lập như thế nào để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển?

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)
TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính)

Giai đoạn trước đại dịch Covid-19, tỷ lệ giữa số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường và doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường có sự chênh lệch khoảng từ 3 đến 4 lần. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn đại dịch Covid-19 và thời kỳ đầu phục hồi kinh tế, bức tranh đã thay đổi hoàn toàn. Đã có những thời điểm chúng ta chứng kiến tỷ lệ này sụt giảm mạnh, thậm chí xuống dưới mức 1 lần. Hiện tại, chỉ số này đang ghi nhận ở mức 1,18 lần.

Con số trên cho thấy đà phát triển của khu vực doanh nghiệp nước ta so với giai đoạn trước đã có sự chững lại nhất định. Mặc dù thời gian qua chúng ta đã ban hành rất nhiều chính sách, bản thân tôi cũng nhìn nhận rằng hệ thống đã có nhiều cải cách, thay đổi tích cực. Đặc biệt, kể từ khi Nghị quyết số 68/NQ-CP được ban hành, tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập so với rút lui đã tăng trưởng vượt trội, tăng gấp hai lần. Cụ thể, ngay sau khi Nghị quyết 68 đi vào cuộc sống, trong năm 2025, tỷ lệ này đã đạt mức tăng gấp đôi. Với kết quả 1,18 lần trong 6 tháng vừa qua, chúng ta hoàn toàn có quyền kỳ vọng rằng trong 6 tháng cuối năm, dưới tác động của các chính sách vừa ban hành, đặc biệt là các Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm điều kiện kinh doanh sẽ tạo được cú hích mạnh mẽ để đưa tỷ lệ này quay trở lại mốc tăng trưởng 2 lần. Đây là góc nhìn dựa trên các số liệu thực tế mà tôi muốn chia sẻ.

ndo_tr_z8019724088275-4b143725db85dbb7d64f0648453a7a99.jpg

Làm thế nào để chúng ta giám sát hiệu quả các điều kiện kinh doanh ẩn. Chúng tôi đã rà soát quy mô lớn vào năm 2016, với 6.000 điều kiện kinh doanh. Đó là một chiến dịch rà soát được thực hiện bởi một đơn vị độc lập. Sau khi hoàn thành việc rà soát 6.000 điều kiện kinh doanh này, trên cơ sở các kiến nghị và dữ liệu thu thập được, các bộ, ngành đã thực hiện cắt giảm tới 30% số lượng điều kiện kinh doanh hiện hành.

Từ bài học thực tế đó, đối với cơ chế giám sát hiện nay, tôi muốn nhấn mạnh vai trò cốt lõi của một đơn vị giám sát độc lập. Khi một tổ chức độc lập đứng ra thực hiện và giám sát toàn bộ quá trình này, nó sẽ tạo ra một cơ chế giám sát chéo hữu hiệu. Lúc đó, cộng đồng doanh nghiệp sẽ có cơ hội cất lên tiếng nói phản hồi, còn các cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ chủ động, quyết liệt hơn trong việc rà soát. Chỉ khi thiết lập được một cơ chế như vậy, công tác rà soát cắt giảm điều kiện kinh doanh mới đi vào thực chất, đáp ứng được sự kỳ vọng và mong mỏi lớn từ cộng đồng doanh nghiệp.

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền:

Thưa ông Tô Hoài Nam, dưới góc độ đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo ông đâu là động lực cốt lõi và những điều kiện cần thiết nhất để doanh nghiệp tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế?

Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trước hết, cần nhìn nhận rằng mục tiêu tự nhiên của mỗi doanh nghiệp khi được thành lập là tạo ra lợi nhuận, làm giàu chính đáng và phát triển bền vững. Đó cũng là động lực nội sinh mạnh mẽ nhất thúc đẩy doanh nhân đầu tư, đổi mới sáng tạo và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, để động lực đó được chuyển hóa thành nguồn lực cho tăng trưởng của nền kinh tế thì doanh nghiệp rất cần một môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, minh bạch và thuận lợi. Theo tôi, có ba yếu tố đặc biệt quan trọng.

ndo_tr_z8019766633134-017f90d05dd08328dc45cf9efec7f367.jpg

Thứ nhất là tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Doanh nghiệp luôn mong muốn các chủ trương, chính sách được xây dựng theo hướng minh bạch, nhất quán và có thể dự báo, từ đó yên tâm xây dựng chiến lược đầu tư, kinh doanh dài hạn.

Thứ hai là hệ thống pháp luật phải thực sự khả thi, dễ hiểu và dễ thực hiện. Khi các quy định rõ ràng, minh bạch, doanh nghiệp sẽ giảm bớt tâm lý e ngại, yên tâm tuân thủ pháp luật và tập trung nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba là xây dựng môi trường kinh doanh an toàn, tạo niềm tin cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ có thể mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô khi tin tưởng rằng nếu thực hiện đúng các quy định của pháp luật thì quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo đảm.

Tôi cho rằng, khi niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp được củng cố bằng một hành lang pháp lý ổn định, minh bạch và một môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp sẽ yên tâm phát triển, phát huy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, qua đó không chỉ làm giàu cho chính mình mà còn đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng và sự phát triển bền vững của đất nước.

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ. Bùi Văn Huyền:

Xin gửi câu hỏi tới ông Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), là một người có tương đối nhiều kinh nghiệm trong việc hoàn thiện thể chế. Chúng ta đặt doanh nghiệp vào trung tâm, chúng ta đã có hệ thống thể chế tương đối hoàn chỉnh. Chúng ta đã có nhiều thành tựu, đồng thời chúng ta cũng có gặp một vài cái rào cản như nhiều hội thảo, hội nghị và những báo cáo phân tích đã chỉ ra. Vậy xin được hỏi ông Bùi Anh Tuấn, theo ông, trong thời gian tới để tiếp nối những thành tựu và để doanh nghiệp thật sự đóng vai trò trung tâm thì trọng tâm của chính sách trong giai đoạn 2026-2030 sẽ là gì? Vâng, xin mời ông.

TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)
TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)

Vâng, xin cảm ơn anh Huyền. Xin kính chào toàn thể quý vị. Câu hỏi này là một câu hỏi lớn, trả lời cho trọng tâm chính sách của giai đoạn 2026-2030 không đơn giản. Qua các trao đổi của các diễn giả trước đó, chị Thảo, anh Thắng, chị Trang, cũng như qua thực tế công tác quản lý nhà nước, tôi thấy rằng, bản thân doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân, mong muốn lớn nhất của họ không phải là được ưu đãi và ưu tiên nhiều hơn. Thực ra, cái họ cần nhất là một môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng và bình đẳng. Một nền tảng thể chế được vững chắc, ổn định và nhất là một không gian phát triển đủ rộng và đủ an toàn để họ có thể tự lớn lên. Qua chia sẻ của chị Trang, tôi cảm nhận rõ ràng như vậy.

ndo_tr_z8019823402756-20fa9bb0588d561f8ec536a088224654.jpg

Nghị quyết 68 đã khẳng định: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, không chỉ là sự thay đổi rất lớn về tư duy phát triển, mà đồng thời là mệnh lệnh cải cách đối với các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách. Theo tôi, giai đoạn 2026-2030, trọng tâm không phải là có thêm nhiều chính sách, mà là cụ thể hóa và thực thi các chính sách một cách hiệu quả, thực chất. Tất nhiên, qua 3 ý kiến của 3 diễn giả vừa chia sẻ thì tập trung vào các nội dung: Chính phủ ban hành Nghị quyết 01 và 02 hằng năm, trong đó, xác định rõ mục tiêu cụ thể về cải thiện môi trường kinh doanh và phân giao chi tiết nhiệm vụ cho các Bộ, ngành, địa phương.

Mục tiêu cao nhất là hướng tới xây dựng môi trường kinh doanh phải thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, bình đẳng, dễ thực thi, chi phí thấp đồng thời bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh hợp pháp, quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội kinh doanh.

Đáng chú ý, thực hiện quyết liệt, triệt để cải cách thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Nhiệm vụ này được triển khai với cường độ rất cao trong thời gian qua. Chính phủ đã ban hành 15 Quyết định phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 Bộ, ngành và trong hơn 1 tháng qua Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết về nội dung này, cắt giảm 53% thời gian và 54,6% chi phí tuân thủ so với 2024. Việc làm này được thực hiện quyết liệt triệt để và thực sự là quyết tâm lớn của Chính phủ.

ndo_tr_z8019724088275-4b143725db85dbb7d64f0648453a7a99.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận 2.

Trọng tâm tiếp theo thực hiện chính sách tháo gỡ điểm nghẽn và tiết giảm chi phí doanh nghiệp, như điều tra công bố của VCCI và cũng chia sẻ với Ngân hàng Nhà nước về áp lực điều hành chính sách tiền tệ, do đó, yêu cầu bản thân doanh nghiệp cũng phải lớn lên, phải minh bạch hóa tài chính. Thực tế cho thấy tiếp cận vốn đang ở mức lãi suất quá cao trong khi đặc trưng của doanh nghiệp hiện nay là không có tài sản bảo đảm, mà thống kê cho thấy, 93,5% khoản vay hiện nay phải có tài sản bảo đảm (con số này của thế giới là 68,5%, của khu vực 65,8%), và ở Việt Nam thì có tới 75,5% doanh nghiệp không thể vay nếu không có tài sản bảo đảm. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 98% tổng số doanh nghiệp, tài sản bảo đảm ko có nên dư nợ cho vay khối doanh nghiệp này gần 10 năm nay chỉ nhích được từ 16 lên 19%.

Với Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, như tôi đã nói lúc trước, cải cách điều kiện kinh doanh là nội dung triển khai hết sức cao điểm và rất chủ trương, mang lại cải cách lớn, tháo gỡ rào cản và giảm ma sát cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, rất cần cơ chế giám sát thực thi để đảm bảo thực chất là cắt giảm, tránh tình trạng điều kiện kinh doanh ẩn dưới các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Điều này cần sự rà soát, đánh giá khi ban hành và đặc biệt là sự phản ánh, phản hồi trực tiếp từ cộng đồng doanh nghiệp.

Trong khi đó, liên quan tới việc huy động khu vực tư nhân, nội dung này đã được nêu ở phần trước thông qua định hướng tăng cường cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị và tiếp cận đất đai (Luật đã ấn định mỗi tỉnh phải dành tối thiểu trung bình 5% hoặc 20 ha trên diện tích khu/cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa). Đồng thời, sửa đổi Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để thay đổi toàn diện từ đối tượng, nội dung đến phương thức hỗ trợ. Với doanh nghiệp lớn, Nghị quyết 68 định hướng mở rộng sự tham gia vào các dự án quan trọng quốc gia, dự án đẳng cấp. Chính phủ và Quốc hội cũng khẩn trương thể chế hóa hệ thống pháp luật liên quan đến cơ chế đặt hàng, đấu thầu, chỉ định thầu. Thực tế chứng minh trong 3 đợt đầu tư công vừa qua, có 564 dự án lớn trị giá khoảng 5,14 triệu tỷ đồng thì có khoảng 74,6% là vốn của doanh nghiệp tư nhân.

 
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huyền:

Như vậy là có 4 ý được đề cập trong phần hỏi gửi tới ông Bùi Anh Tuấn, theo đó, ý thứ nhất về Luật sửa đổi hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; ý thứ hai về huy động trong khu vực tư nhân, cơ bản diễn giả đã trả lời. Còn ý thứ ba về nhận diện rào cản ẩn và ý thứ tư bình luận về con số tỷ lệ doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Vậy làm thế nào để nhận diện rào cản ẩn và những dấu hiệu ẩn này đang nằm đâu đó trong quy định mà doanh nghiệp gặp phải. Ông bình luận gì về con số ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương có nêu tỷ lệ doanh nghiệp rút lui bằng 89% doanh nghiệp gia nhập thị trường? Bức tranh đó có quá nhiều gam xám không thưa ông?

TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)
TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính)

Liên quan tới nhận diện rào cản ẩn, chuyên gia Phan Đức Hiếu đã trả lời khá chi tiết và rõ ràng rồi.

Còn về phía câu hỏi liên quan tới tỷ lệ doanh nghiệp, đây là câu hỏi tôi rất hay nhận được từ các nhà báo. Trong 6 tháng qua, chúng ta có khoảng 170.000 doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay trở lại hoạt động, đồng thời có khoảng 151.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (chia ra khoảng 89%). Nhìn nhận về việc này, có thể thấy, Nghị quyết 68 đã tạo ra xung lực, khí thế mới cho môi trường kinh doanh và gia nhập thị trường. Từ tháng 5/2025 đến nay, số doanh nghiệp gia nhập thị trường diễn ra hết sức sôi động, trung bình hơn 18.000 doanh nghiệp/tháng, cao gấp khoảng 1,6 lần so với giai đoạn 2021-2025. Bất cứ giai đoạn phát triển kinh tế nào, sự bùng nổ của kinh tế tư nhân đều gắn với một giai đoạn phát triển mới (như năm 2000, 2005, 2017, 2025). Song song đó, quá trình sàng lọc, cạnh tranh khốc liệt diễn ra khiến một bộ phận doanh nghiệp phải rời thị trường (151.000 doanh nghiệp).

Trong đó, có khoảng 60% doanh nghiệp lựa chọn hình thức tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (dưới 1 năm). Đây là những doanh nghiệp chưa rời bỏ thị trường ngay mà tạm thời "đóng băng" để tái cơ cấu, tìm kiếm cơ hội. Nếu không thể quay lại, họ mới chuyển sang giải thể (rút lui hoàn toàn). Thực tế 6 tháng đầu năm, chúng ta đã có gần 60.000 doanh nghiệp từ đang tạm ngừng đã quay trở lại hoạt động. Như vậy, phần lớn doanh nghiệp chưa rời bỏ mà vẫn mong muốn, khát vọng kinh doanh.

Khoảng 75% doanh nghiệp rút lui hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ (không phải sản xuất). Đây là ngành có đặc trưng "ra dễ, vào dễ", mang tính thường xuyên và linh hoạt, cộng thêm sự cạnh tranh từ thương mại điện tử làm thay đổi thói quen mua sắm.

Hơn 60% số doanh nghiệp rút lui này có tuổi đời dưới 5 năm. Họ là những doanh nghiệp mới thành lập, có thể ý tưởng kinh doanh chưa chuẩn bị kỹ nên gặp va vấp giai đoạn đầu. Nhưng khi có cơ hội, họ có thể mở doanh nghiệp khác để quay lại.

Khoảng 65% doanh nghiệp rút lui có quy mô vốn nhỏ (dưới 10 tỷ). Qua chạy dữ liệu liên thông (đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan), tỉ lệ doanh nghiệp trực tiếp phát sinh doanh thu trong năm liền kề trước khi đóng cửa là rất thấp. Nghĩa là họ đã chuẩn bị tâm thế để rời thị trường. Số liệu cụ thể được công bố công khai hàng tháng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Tôi cũng xin bổ sung thêm thông tin quốc tế, tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập/rút lui khỏi thị trường ở Anh và Mỹ là 1/1. Ở châu Âu là 1/1 (nghĩa là cứ 1 doanh nghiệp gia nhập thì có 1 doanh nghiệp rút lui). Còn của chúng ta hiện nay đang là 1/1,18. Tôi chỉ cung cấp dữ liệu, còn phân tích thì tùy góc nhìn của mỗi người.

Phát biểu bế mạc của đồng chí Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam:

Muốn tăng trưởng hai con số, phải đặt doanh nghiệp vào trung tâm cải cách

Kính thưa đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương,

Kính thưa các chuyên gia, các nhà khoa học, các đồng chí lãnh đạo hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân,

Thưa toàn thể quý vị đại biểu,

Sau một buổi làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, rất sôi nổi và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Thay mặt Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tôi xin trân trọng cảm ơn Báo Nhân Dân đã phối hợp chặt chẽ với VCCI để tổ chức Hội thảo có ý nghĩa thiết thực hôm nay. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các chuyên gia, các diễn giả, các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nhân và các cơ quan báo chí đã tham dự, đóng góp nhiều ý kiến thẳng thắn, sâu sắc và rất tâm huyết.

Có thể nói, Hội thảo hôm nay không chỉ là một diễn đàn trao đổi chính sách. Đây còn là dịp để chúng ta cùng nhìn lại một cách thực chất hơn những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời nhận diện rõ hơn vai trò trung tâm của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, trong mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước trong giai đoạn tới.

2aoboqiv18rvmxnrn3nwgsqr4qjzkqghsmlpqf3a.jpg

Đồng chí Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Thưa quý vị,

Qua các ý kiến phát biểu, báo cáo đề dẫn và hai phiên thảo luận, chúng tôi nhận thấy có một số điểm nhấn lớn cần được lưu ý và quyết liệt trong triển khai thực hiện:

Trước hết, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một khát vọng phát triển, mà là yêu cầu chiến lược của đất nước trong giai đoạn mới. Để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nâng cao năng suất, tăng năng lực cạnh tranh và tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta cần một tốc độ tăng trưởng cao hơn, bền vững hơn và dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và năng lực của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách làm cũ, tư duy cũ và động lực cũ. Muốn có tốc độ tăng trưởng mới, phải tạo ra không gian phát triển mới. Muốn có động lực mới, phải khơi thông các nguồn lực đang bị nghẽn. Và muốn khơi thông nguồn lực, cải cách thể chế phải đi trước một bước.

Hai là, cải cách thể chế vẫn là dư địa tăng trưởng lớn nhất của Việt Nam. Các ý kiến tại Hội thảo đều thống nhất rằng, doanh nghiệp hiện nay không chỉ cần thêm chính sách hỗ trợ, mà trước hết cần một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, dễ dự báo và chi phí tuân thủ thấp. Doanh nghiệp cần được giải phóng khỏi những thủ tục không cần thiết, những điều kiện kinh doanh chồng chéo, những quy định thiếu thống nhất và những cách hiểu khác nhau giữa các cấp thực thi và hướng dẫn thực thi.

Trong phiên thảo luận thứ nhất về cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, các đại biểu đã nêu nhiều vấn đề rất cụ thể từ thực tiễn, như: .vướng mắc về thủ tục hành chính vẫn còn, bộ thủ tục mới và công tác đanh giá tác động chính sách

Trong phiên thảo luận thứ nhất về việc cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, các đại biểu đã nêu nhiều vấn đề rất cụ thể như thực tế, vướng mắc về thủ tục hành chính vẫn còn. Chúng ta đã ban hành mới nhưng chưa bỏ cái cũ, cho nên việc thực hiện khó. Các thủ tục mới cũng như các hướng dẫn thủ tục tiếp theo cũng chưa rõ ràng nên khó thực thi. Công tác đánh giá tác động của chính sách vẫn còn hình thức. Cơ chế giải quyết vướng mắc chưa rõ ràng và chưa cụ thể.

Tôi cho rằng, trong thời gian tới, việc rà soát pháp luật cần được thực hiện theo chuỗi hoạt động kinh doanh, từ thành lập doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy, sản xuất, xuất nhập khẩu, hoàn thuế, kiểm tra chuyên ngành cho tới giải thể. Chỉ khi đứng từ góc nhìn của doanh nghiệp, chúng ta mới nhận diện đầy đủ các điểm nghẽn mà doanh nghiệp đang phải đối mặt hằng ngày. Cắt giảm điều kiện kinh doanh phải là cắt giảm thực chất, không để tình trạng cắt một giấy phép nhưng lại phát sinh một tiêu chuẩn, quy chuẩn hoặc thủ tục khác còn phức tạp hơn.

Ba là, kinh tế tư nhân phải thực sự trở thành trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo ra một bước đột phá rất quan trọng về tư duy khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Nhưng để tinh thần đó đi vào cuộc sống, cần phải có những cơ chế cụ thể, nhất quán và đủ mạnh và kiến tạo được sự phát triển

Trong phiên thảo luận thứ hai, các đại biểu đã trao đổi nhiều nội dung quan trọng liên quan đến vai trò của kinh tế tư nhân, yêu cầu phát triển doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, nâng cao năng lực quản trị, tiếp cận vốn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Đồng thời cũng nêu rõ mục tiêu của phiên thảo luận thứ hai là tập trung tạo được niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc thu hẹp khoảng cách từ văn bản đến hiệu quả thực thi; cố gắng củng cố nội lực cho doanh nghiệp Việt; nuôi dưỡng khát vọng vươn tầm doanh nghiệp Việt.

Chúng ta xác định trọng tâm chính sách trong giai đoạn tới cần phải là cởi trói về thể chế, thực thi mệnh lệnh cải cách một cách thực chất, có đo lường và kiểm đếm được.

Tôi chia sẻ với quan điểm rằng, doanh nghiệp tư nhân không thể chỉ được nhìn nhận như một lực lượng “bổ sung” cho nền kinh tế. Doanh nghiệp chính là nơi tạo ra việc làm, tạo ra sản phẩm, tạo ra giá trị gia tăng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển hóa các chủ trương, chính sách thành kết quả tăng trưởng cụ thể. Vì vậy, nếu muốn tăng trưởng hai con số, cần đặt doanh nghiệp vào trung tâm của quá trình thiết kế và thực thi chính sách.

Bốn là phải rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực thi. Chủ trương đúng là rất quan trọng, nhưng kết quả cuối cùng được đo bằng cảm nhận và hiệu quả thực tế đối với doanh nghiệp. Do đó, chúng ta cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo; từ tiền kiểm nặng nề sang hậu kiểm dựa trên rủi ro; từ xử lý theo quy trình khép kín sang giám sát bằng kết quả đầu ra; từ trách nhiệm chung chung sang trách nhiệm cá nhân cụ thể, rõ ràng.

Một chính sách tốt phải thỏa mãn được các vấn đề đặt ra như: doanh nghiệp được lợi gì, chi phí tuân thủ giảm bao nhiêu, và ai chịu trách nhiệm nếu chính sách không đi vào thực tế. Cũng từ tinh thần đó, các kiến nghị về cơ chế giám sát thực thi, công khai thời gian xử lý hồ sơ, đo lường số kiến nghị doanh nghiệp được giải quyết, xử lý nghiêm tình trạng gây phiền phức cho doanh nghiệp là những gợi ý rất đáng quan tâm.

ndo_tr_ketluan.jpg

Thưa quý vị,

Từ kết quả Hội thảo hôm nay, VCCI xin ghi nhận và sẽ tiếp tục phối hợp với Báo Nhân Dân, các cơ quan liên quan, các hiệp hội doanh nghiệp để tổng hợp đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của đại biểu. Trên cơ sở đó, VCCI sẽ xây dựng báo cáo kiến nghị gửi các cơ quan có thẩm quyền, tập trung vào một số nhóm vấn đề như:

1) Kiến nghị tiếp tục cải cách mạnh mẽ và thực chất điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, kiểm tra chuyên ngành, hoàn thuế, thông quan, đất đai, xây dựng, môi trường và các thủ tục đang trực tiếp ảnh hưởng đến đầu tư, sản xuất, xuất khẩu.

2) Kiến nghị xây dựng cơ chế xử lý nhanh các dự án đầu tư, sản xuất, hạ tầng đang bị đình trệ do vướng mắc pháp lý, thủ tục, đất đai, môi trường, tín dụng; trong đó cần có đầu mối chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý rõ ràng và kết quả đầu ra có thể đo lường được.

3) Kiến nghị hoàn thiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh, nhất là về tiếp cận vốn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, liên kết chuỗi giá trị và mở rộng thị trường.

4) Kiến nghị thiết lập cơ chế giám sát thực thi chính sách với sự tham gia của VCCI, các hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia độc lập và báo chí kinh tế, nhằm bảo đảm các cải cách không chỉ nằm trên văn bản mà thực sự đi vào công tác điều hành và hỗ trợ được hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

5) Kiến nghị phát huy hơn nữa vai trò của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trong tham gia góp ý, phản biện chính sách, đồng thời thúc đẩy văn hóa kinh doanh có trách nhiệm, thượng tôn pháp luật, đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Về phía VCCI, chúng tôi cam kết tiếp tục làm tốt vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam. VCCI sẽ tiếp tục lắng nghe tiếng nói của doanh nghiệp; phản ánh trung thực, kịp thời các khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn; tham gia xây dựng và phản biện chính sách; thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Chúng tôi cũng thiết tha đề nghị cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục chủ động đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, minh bạch hóa hoạt động, tuân thủ pháp luật, phát triển văn hóa kinh doanh và nuôi dưỡng khát vọng vươn lên. Nhà nước kiến tạo môi trường thuận lợi, nhưng chính doanh nghiệp phải là lực lượng biến cơ hội thành kết quả, biến chính sách thành sản phẩm, biến khát vọng phát triển của đất nước thành hành động cụ thể trong từng dự án, từng nhà máy, từng đơn hàng, từng sản phẩm và từng thị trường.

2aoboqiv18rvmxnrn3nwgsqr4qjzkqghsmlpqf3a.jpg

Thưa quý vị,

Hội thảo hôm nay đã khép lại, nhưng những vấn đề đặt ra tại Hội thảo cần tiếp tục được theo đuổi bằng các hành động cụ thể. Tôi tin tưởng rằng, với quyết tâm cao và các quyết sách mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, với sự đồng hành của các cơ quan truyền thông như Báo Nhân Dân, và các nền tảng truyền thông khác, với trách nhiệm cao và sự chia sẻ đồng hành của các bộ, ngành, địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp và với tinh thần đổi mới, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, mục tiêu tăng trưởng hai con số là một mục tiêu rất khó, nhưng không phải là không thể đạt được.

Một lần nữa, thay mặt VCCI, tôi xin trân trọng cảm ơn Báo Nhân Dân đã phối hợp tổ chức Hội thảo; cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các chuyên gia, các diễn giả, các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và các cơ quan báo chí đã tham dự, đóng góp ý kiến và đồng hành cùng VCCI.

Xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội thảo.

Xin trân trọng cảm ơn!

TheoNHÓM PHÓNG VIÊN (Báo Nhân dân)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global