VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Chủ nhật, 13/09/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợp'Ba cái mới' cần ưu tiên trong quan hệ Việt Nam với BRICS

'Ba cái mới' cần ưu tiên trong quan hệ Việt Nam với BRICS

10:57:00 AM GMT+7Thứ 7, 12/09/2026

Nhân sự kiện Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 và làm việc song phương tại Ấn Độ, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Tôn Sinh Thành, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Ấn Độ kiêm nhiệm Bhutan và Nepal nhiệm kỳ 2014 - 2018 về những lợi thế và xu hướng hợp tác phát triển của Việt Nam với các đối tác lớn này.

Một thập kỷ kể từ khi Việt Nam và Ấn Độ nâng cấp quan hệ lên "Đối tác chiến lược toàn diện" vào năm 2016, hợp tác song phương đã được mở rộng đáng kể trên nhiều lĩnh vực. Tháng 5/2026, Ấn Độ tiếp tục trở thành quốc gia đầu tiên và đến nay là duy nhất cùng Việt Nam nâng quan hệ lên cấp độ "Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường".

Cùng với đó, từ 2025, Việt Nam đã tham gia BRICS với tư cách Đối tác, mở ra cơ hội lớn trong quan hệ với khối các nước có nhiều tiềm năng về thị trường, công nghệ và tài chính

Nhân dịp Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 và làm việc song phương tại Ấn Độ, VietnamFinance có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Tôn Sinh Thành, Nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Ấn Độ và một số quốc gia Nam Á.

Việt Nam - BRICS: Tăng cường hợp tác, kết nối hạ tầng thanh toán kỹ thuật số

- Việt Nam đã trở thành Nước đối tác BRICS hơn một năm. Nếu nhìn từ góc độ kinh tế, theo ông, Việt Nam cần "chú trọng điều gì" từ BRICS để việc tham gia cơ chế này không chỉ dừng lại ở ý nghĩa ngoại giao?. Đâu là những lợi ích cụ thể nhất mà Việt Nam nên theo đuổi?

Ông Tôn Sinh Thành: Nếu nhìn nhận từ góc độ kinh tế, sự tham gia của Việt Nam với tư cách Đối tác của BRICS cần mang lại những kết quả thực chất. Theo tôi, có ba lợi ích cụ thể và cốt lõi nhất mà Việt Nam nên tập trung theo đuổi.

Một là, Việt Nam cần thiết lập quan hệ với các định chế tài chính của BRICS như Ngân hàng Phát triển Mới (NDB) và Thỏa thuận Dự trữ Dự phòng (CRA), nhằm tiếp cận các nguồn tài trợ dành cho phát triển hạ tầng, năng lượng tái tạo, chuyển đổi số và hiện đại hóa lưới điện cùng các cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Hai là, cần khai thác BRICS như một "kênh thể chế" quan trọng để khai phá tiềm năng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông nghiệp, dệt may, điện tử và thúc đẩy đầu tư xuyên biên giới sang các nước BRICS như Ấn Độ, Nga, Nam Phi nhằm giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào một số thị trường truyền thống.

Ba là, cần tận dụng hợp tác công nghệ và chuyển giao tri thức với các cường quốc công nghệ trong khối BRICS (như Ấn Độ trong lĩnh vực công nghệ thông tin/fintech hay Trung Quốc trong chuỗi cung ứng công nghệ cao và xe điện) nhằm phát triển nền kinh tế số đang tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam.

Nói ngắn gọn, Việt Nam cần chú trọng hợp tác trong BRICS lĩnh vực: nguồn vốn phát triển mới, thị trường mới, và công nghệ mới.

Tiến sĩ Tôn Sinh Thành, Nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Ấn Độ và một số quốc gia Nam Á. Ảnh: NVCC

- BRICS ngày càng có quy mô kinh tế lớn, nhưng Việt Nam hiện mới là Nước đối tác chứ chưa phải thành viên đầy đủ. Theo ông, tư cách này thực sự mở ra những cơ hội kinh tế nào cho Việt Nam và đâu là những giới hạn mà chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế?

Ông Tôn Sinh Thành: Với tư cách Nước đối tác của BRICS, Việt Nam được quyền tham dự các hội nghị thượng đỉnh, các diễn đàn bộ trưởng và các nhóm công tác chuyên đề, được tiếp cận thông tin chính sách, chương trình hợp tác ngành và mạng lưới doanh nghiệp – chính phủ trong BRICS. Việt Nam cũng được tham gia trực tiếp vào việc thảo luận, xây dựng các khuôn khổ đầu tư, kết nối chuỗi cung ứng, hạ tầng số công cộng và hệ thống thanh toán. Từ đó, có thể tiếp cận có chọn lọc các sáng kiến về thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, chuyển đổi xanh, đặc biệt trong năm Ấn Độ làm Chủ tịch 2026.

Đặc biệt, Việt Nam và các nước BRICS có thể tăng cường hợp tác, kết nối hạ tầng thanh toán kỹ thuật số góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và chuỗi cung ứng. Khi những rào cản trong giao dịch được giảm bớt, môi trường kinh doanh sẽ thuận lợi hơn và tạo động lực thu hút thêm đầu tư. Sự hợp tác này diễn ra trên tinh thần tự nguyện, giúp Việt Nam tranh thủ được các nguồn lực phát triển mà không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ pháp lý nặng nề.

Tuy nhiên, với tư cách nước đối tác, Việt Nam cũng sẽ có những giới hạn như không có quyền ra quyết định tương đương với các thành viên đầy đủ. Ngoài ra, bản thân BRICS cũng còn những rào cản như việc triển khai sáng kiến thanh toán bằng đồng nội tệ đang vấp phải các rào cản kỹ thuật rất lớn liên quan đến tính thanh khoản, khả năng chuyển đổi và tính ổn định của các đồng tiền trong khối. Các thành viên có hệ thống tài chính, chế độ tỷ giá và mức độ mở cửa thị trường hoàn toàn khác biệt. Bên cạnh đó, việc tiếp cận tài chính từ NDB và các cơ chế nội khối có thể bị giới hạn, đòi hỏi Việt Nam phải chủ động thiết kế dự án "đủ chuẩn" và tìm đồng tài trợ.

Do vậy, việc Việt Nam là Đối tác của BRICS mở ra cơ hội kinh tế rõ rệt, nhưng cũng có giới hạn. Chúng ta cần tận dụng cơ hội, đồng thời thấy các giới hạn để không kỳ vọng quá mức.

Việt Nam - Ấn Độ: Phối hợp áp dụng các giải pháp hạ tầng số công cộng

- Trong bối cảnh Ấn Độ coi Việt Nam là một đối tác quan trọng trong chính sách "Hành động hướng Đông", còn Việt Nam cũng thể hiện sự ủng hộ đối với vai trò ngày càng lớn của Ấn Độ trên trường quốc tế, ông đánh giá thế nào về khả năng Việt Nam trở thành một cầu nối giữa Ấn Độ, BRICS với ASEAN và khu vực châu Á - Thái Bình Dương?

Ông Tôn Sinh Thành: Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành cầu nối chiến lược giữa Ấn Độ, BRICS với khu vực ASEAN và châu Á - Thái Bình Dương bởi những điều kiện thuận lợi sau đây.

Thứ nhất, nằm ở giao điểm của các hành lang thương mại quan trọng kết nối Đông Á, Nam Á và Thái Bình Dương, Việt Nam là điểm trung chuyển lý tưởng cho các tuyến vận tải hàng hải và chuỗi cung ứng liên vùng, liên kết các sáng kiến của BRICS với mạng lưới sản xuất của ASEAN.

Thứ hai, Ấn Độ và Việt Nam có sự tương đồng định hướng chính sách, đều ủng hộ trật tự khu vực dựa trên luật lệ, tự do hàng hải, và đa cực hóa. Việt Nam ủng hộ vai trò ngày càng lớn của Ấn Độ trong các cơ chế khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, Việt Nam là một thành viên tích cực, có uy tín trong ASEAN và là bên ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do lớn như RCEP, CPTPP, IPEF. Sự hiện diện đồng thời trong các cơ chế này cho phép Việt Nam đóng vai trò cầu nối, giúp kết nối các chương trình nghị sự về hạ tầng của BRICS (thông qua NDB) với các kế hoạch kết nối tổng thể của ASEAN và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

- Ấn Độ lựa chọn chủ đề cho nhiệm kỳ Chủ tịch BRICS 2026 xoay quanh khả năng chống chịu, đổi mới sáng tạo, hợp tác và phát triển bền vững. Theo ông, Việt Nam nên chủ động đề xuất hoặc tham gia những sáng kiến nào trong khuôn khổ BRICS để biến tư cách "nước đối tác" thành những lợi ích kinh tế cụ thể?

Ông Tôn Sinh Thành: Chủ đề của Ấn Độ cho BRICS 2026 là "Xây dựng vì khả năng chống chịu, đổi mới sáng tạo, hợp tác và phát triển bền vững". Việt Nam nên gắn đề xuất của mình vào ba trụ cột này.

Thứ nhất, Việt Nam có thể chủ động thúc đẩy các cơ chế hợp tác ứng phó với các cú sốc cung ứng bên ngoài và biến đổi khí hậu trong khuôn khổ "Kế hoạch hành động chuỗi giá trị toàn cầu BRICS 2026–2030", trong đó có Cơ chế chia sẻ thông tin rủi ro, dự trữ chiến lược một số mặt hàng thiết yếu (lương thực, dược phẩm, linh kiện); Tiêu chuẩn chung về "chuỗi cung ứng xanh", tận dụng vị trí "Trung Quốc+1" để mời doanh nghiệp BRICS đặt nhà máy, trung tâm R&D tại Việt Nam.

Thứ hai, Việt Nam cũng có thể đề xuất các dự án thử nghiệm chung về điện gió, điện mặt trời, lưới điện thông minh, giao thông ít phát thải, công nghệ lưu trữ năng lượng, tận dụng nguồn lực kỹ thuật và chuyển giao tri thức từ các thành viên BRICS, được đồng tài trợ bởi NDB, quỹ khí hậu và các đối tác phát triển khác trong lĩnh vực này. Các dự án này nếu gắn với cam kết Net Zero của Việt Nam, tạo "gói dự án xanh" sẽ hấp dẫn hơn để BRICS coi Việt Nam là điểm đến ưu tiên.

Thứ ba, Việt Nam cần tích cực phối hợp với Ấn Độ để áp dụng các giải pháp hạ tầng số công cộng (thanh toán số, định danh điện tử công cộng) nhằm thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới và tối ưu hóa thủ tục hải quan giữa Việt Nam với các nước BRICS. Điều này giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam giảm chi phí giao dịch và rủi ro biến động tỷ giá USD trong các giao dịch thương mại với các nước mới nổi. Những sáng kiến trên đây vừa khớp với chủ đề 2026 của Ấn Độ, vừa phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Việt Nam trở thành Nước đối tác BRICS từ năm 2025. Ảnh: TTXVN

- BRICS đang mở rộng nhanh trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phân mảnh và cạnh tranh giữa các trung tâm quyền lực lớn gia tăng. Theo ông, Việt Nam nên thúc đẩy lộ trình hợp tác thế nào với BRICS để phù hợp hơn với lợi ích kinh tế và đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam?

Ông Tôn Sinh Thành: Về ngắn hạn và trung hạn, tư cách Đối tác của BRICS hiện nay là phù hợp nhất với lợi ích kinh tế và an ninh chiến lược của Việt Nam, cho phép Việt Nam tiếp cận nhiều lợi ích kinh tế – kỹ thuật nhờ tiếp cận vào cả hai cấu trúc, duy trì thị trường xuất khẩu ở phương Tây, song song với việc mở rộng không gian phát triển, tiếp cận nguồn vốn xanh và đa dạng hóa thị trường ở các nước BRICS

Tuy nhiên về dài hạn, không loại trừ khả năng Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ nếu BRICS tiếp tục định hình rõ hơn thành một cơ chế hợp tác kinh tế – phát triển thực chất. Lợi ích kinh tế (tiếp cận tài chính, thị trường, công nghệ) từ tư cách thành viên vượt trội rõ rệt so với đối tác, và không mâu thuẫn với các cam kết trong ASEAN, CPTPP, RCEP.

Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, tư cách Nước đối tác BRICS là lựa chọn tối ưu, giúp Việt Nam thu được những lợi ích kinh tế cụ thể mà vẫn giữ dư địa chiến lược để đa dạng hóa quan hệ. Về dài hạn, chúng ta không loại trừ khả năng nâng cấp lên tư cách thành viên chính thức của BRICS, nhưng mọi bước đi đều phải dựa trên tính toán lợi ích – rủi ro kinh tế thực tế và nguyên tắc đa phương, đa dạng hóa của Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

TheoHoàng Phan (Tạp chí điện tử Nhà đầu tư)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global