VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 5, 14/05/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpMột năm Nghị quyết 68: 'Tư duy thay đổi, cải cách thể chế tăng tốc'

Một năm Nghị quyết 68: 'Tư duy thay đổi, cải cách thể chế tăng tốc'

09:28:00 AM GMT+7Thứ 5, 14/05/2026

TS. Phan Đức Hiếu cho rằng sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, điều đáng chú ý nhất là nhiều cải cách thể chế đã bắt đầu chuyển động trong thực tế, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định và an toàn hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, nhiều chuyển động cải cách thể chế đã bắt đầu đi vào thực tế. Từ thay đổi tư duy điều hành, thúc đẩy sửa đổi hàng loạt luật liên quan tới đầu tư, PPP, đấu thầu, quy hoạch cho tới tháo gỡ các dự án tồn đọng kéo dài nhiều năm, khu vực kinh tế tư nhân đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với kỳ vọng về môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn và ổn định hơn.

S. Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc.

Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, TS. Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng điểm quan trọng nhất của Nghị quyết 68 không chỉ nằm ở việc nâng tầm vai trò của kinh tế tư nhân, mà ở chỗ tư duy phát triển đã chuyển mạnh từ “khuyến khích doanh nghiệp” sang “kiến tạo môi trường để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn”.

Xây dựng môi trường phát triển ổn định, có khả năng dự báo cao

- Thưa ông, sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, đâu là những thay đổi rõ nét nhất trong nhận thức và tư duy phát triển đối với khu vực kinh tế tư nhân?

TS. Phan Đức Hiếu: Nếu nhìn lại toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, có thể thấy Nghị quyết 68-NQ/TW là một bước chuyển rất mạnh về tư duy đối với khu vực kinh tế tư nhân.

Trước đây, chúng ta đã nhiều lần khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, coi đây là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn của Nghị quyết 68 lần này là không chỉ dừng ở việc khẳng định vị thế hay vai trò, mà đi sâu hơn vào câu chuyện môi trường phát triển của khu vực tư nhân.

Nói cách khác, tư duy điều hành hiện nay đã thay đổi từ “khuyến khích doanh nghiệp phát triển” sang “xây dựng một môi trường đủ an toàn để doanh nghiệp yên tâm phát triển lâu dài”. Đây là thay đổi rất quan trọng.

Trước đây, chính sách thường tập trung vào hỗ trợ, ưu đãi hoặc tạo điều kiện cho doanh nghiệp. Nhưng Nghị quyết 68 đặt ra một yêu cầu trực diện hơn: nếu muốn kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế thì môi trường đầu tư kinh doanh phải minh bạch hơn, ổn định hơn, giảm rủi ro hơn và giúp doanh nghiệp có niềm tin để đầu tư dài hạn.

Đó cũng là lý do Nghị quyết không chỉ nói về kinh tế tư nhân ở góc độ phát triển doanh nghiệp, mà đi thẳng vào nhiều tồn tại kéo dài trong thực tế như cơ chế “xin – cho”, quy hoạch chồng chéo, thanh tra kiểm tra dày đặc, việc bảo vệ quyền tài sản hay nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự.

Có thể nói, nhiều vấn đề trước đây chủ yếu được thảo luận trong giới chuyên gia, trong quá trình xây dựng chính sách hoặc được doanh nghiệp phản ánh nhiều năm, thì nay đã được đặt ra tương đối trực diện và rõ ràng trong một nghị quyết của Bộ Chính trị. Điều này cho thấy nhận thức và tư duy phát triển đã thay đổi đáng kể.

Điểm đáng chú ý nữa là Nghị quyết 68 không tiếp cận theo hướng chỉ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong ngắn hạn, mà hướng tới việc xây dựng một môi trường phát triển ổn định, có khả năng dự báo cao hơn. Bởi doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro thị trường, nhưng rất khó đầu tư dài hạn nếu chính sách thiếu ổn định hoặc môi trường kinh doanh còn tạo cảm giác bất an.

Tôi cho rằng đây là thay đổi rất căn bản về tư duy thể chế. Nếu trước đây trọng tâm là quản lý để kiểm soát rủi ro, thì hiện nay tư duy đang chuyển dần sang kiến tạo phát triển và bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp.

Nhìn lại một năm qua, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tinh thần đổi mới của Nghị quyết, mà còn ở tốc độ thể chế hóa diễn ra khá nhanh. Chúng ta đã thấy hàng loạt động thái cụ thể từ Quốc hội và Chính phủ nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn kéo dài của môi trường đầu tư kinh doanh.

Ví dụ như việc ban hành các cơ chế, nghị quyết đặc thù để xử lý các dự án tồn đọng kéo dài nhiều năm; sửa đổi các luật liên quan tới đầu tư, PPP, đấu thầu, quy hoạch; hay xu hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong nhiều lĩnh vực quản lý.

Điều đó cho thấy tinh thần của Nghị quyết 68 không chỉ dừng ở mặt chủ trương hay định hướng chính sách, mà đã bắt đầu đi vào quá trình vận hành thực tế của bộ máy quản lý và hệ thống pháp luật.

Tất nhiên, quá trình này vẫn còn nhiều việc phải làm và chắc chắn sẽ còn không ít khó khăn, bởi thay đổi tư duy là một chuyện, nhưng chuyển hóa thành hành động đồng bộ trong toàn bộ hệ thống lại là câu chuyện phức tạp hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, theo tôi, điểm tích cực nhất sau một năm là Nghị quyết 68 đã tạo ra chuyển động thực sự. Nghĩa là chúng ta không chỉ thay đổi về nhận thức đối với khu vực kinh tế tư nhân, mà đã bắt đầu xuất hiện những thay đổi cụ thể trong hành động, trong thiết kế chính sách và trong cách tiếp cận thể chế đối với doanh nghiệp.

- Những thay đổi về tư duy và thể chế sau một năm thực hiện Nghị quyết 68 đã tác động như thế nào tới khu vực kinh tế tư nhân, thưa ông?

TS. Phan Đức Hiếu: Khi tư duy phát triển thay đổi thì cách thiết kế thể chế và môi trường đầu tư cũng buộc phải thay đổi theo. Đây không thể chỉ dừng lại ở những tuyên bố hay khẩu hiệu chính sách, mà phải được phản ánh bằng những thay đổi cụ thể trong cách xây dựng pháp luật, cách quản lý và cách ứng xử với doanh nghiệp.

Nếu kinh tế tư nhân được xác định là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”, thì điều đó đồng nghĩa môi trường kinh doanh phải được thiết kế theo hướng tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.

Trước đây, cách tiếp cận phổ biến thường thiên về quản lý để kiểm soát rủi ro. Tức là cơ quan quản lý thường ưu tiên việc siết điều kiện, tăng tiền kiểm, tăng thủ tục để hạn chế các nguy cơ phát sinh. Tuy nhiên, Nghị quyết 68 cho thấy tư duy đang chuyển mạnh sang hướng kiến tạo môi trường phát triển, trong đó trọng tâm là bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp và giảm bớt các rào cản không cần thiết đối với doanh nghiệp.

Tinh thần này thể hiện khá rõ qua nhiều nội dung rất quan trọng như nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự; ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế và hành chính trước; tăng cường bảo vệ quyền tài sản; hay định hướng giảm thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật.

Theo tôi, đây là thay đổi rất lớn về mặt tư duy thể chế. Bởi doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro của thị trường, cạnh tranh hay biến động kinh tế, nhưng điều họ e ngại nhất là môi trường chính sách thiếu ổn định, thiếu khả năng dự báo hoặc tạo cảm giác bất an trong quá trình đầu tư và kinh doanh.

Một doanh nghiệp sẽ rất khó mạnh dạn đầu tư dài hạn nếu họ không biết chính sách có thay đổi đột ngột hay không, thủ tục có phát sinh thêm hay không, hoặc liệu một quan hệ kinh tế thông thường có thể bị chuyển hóa thành rủi ro pháp lý hay không. Chính vì vậy, việc tạo dựng niềm tin thể chế có ý nghĩa rất quan trọng.

Trong một năm qua, tôi cho rằng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở các tuyên bố chính sách, mà ở việc nhiều nội dung của Nghị quyết 68 đã bắt đầu được thể chế hóa khá nhanh. Chúng ta đã chứng kiến hàng loạt động thái sửa đổi luật liên quan đến đầu tư, PPP, đấu thầu, quy hoạch; nhiều cơ chế đặc thù được Quốc hội ban hành để tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng; đồng thời cũng có nhiều nỗ lực nhằm cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Điều này cho thấy môi trường đầu tư đang dần được điều chỉnh theo hướng minh bạch hơn, ổn định hơn và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Tất nhiên, phải nhìn nhận rằng quá trình thay đổi này sẽ không thể diễn ra ngay lập tức và đồng đều ở tất cả các cấp, các ngành. Vẫn còn những độ “vênh” nhất định giữa tinh thần cải cách ở cấp trung ương với cách thực thi ở một số lĩnh vực cụ thể. Nhưng điều quan trọng là tư duy nền tảng đã thay đổi và quá trình cải cách đã thực sự bắt đầu.

Tôi cho rằng đây là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với khu vực kinh tế tư nhân. Bởi một nền kinh tế sẽ rất khó thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển mạnh nếu doanh nghiệp chưa thực sự cảm thấy an toàn khi đầu tư dài hạn. Khi niềm tin vào môi trường thể chế được cải thiện, doanh nghiệp mới có động lực để mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Các nguồn lực kinh tế vẫn chưa vận hành thông suốt và hiệu quả

- Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực sau một năm thực hiện Nghị quyết 68. Tuy nhiên, trên thực tế, cộng đồng doanh nghiệp vẫn cho rằng họ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn từ môi trường kinh doanh, thể chế cho tới khả năng tiếp cận nguồn lực. Theo quan sát của ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay?

TS. Phan Đức Hiếu: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở chỗ các nguồn lực của nền kinh tế vẫn chưa được vận hành một cách thực sự thông suốt và hiệu quả.

Thực tế hiện nay có rất nhiều dự án kéo dài nhiều năm không phải vì thiếu vốn, thiếu nhà đầu tư hay thiếu nhu cầu thị trường, mà chủ yếu do vướng mắc về thủ tục pháp lý, quy hoạch chồng chéo hoặc xung đột giữa các quy định pháp luật trong quá trình triển khai.

Nói cách khác, có những nguồn lực đã sẵn sàng nhưng chưa thể đi vào nền kinh tế vì bị “mắc kẹt” ở các khâu thể chế và thực thi. Điều này làm phát sinh chi phí rất lớn không chỉ cho doanh nghiệp mà cho cả nền kinh tế.

Một dự án bị đình trệ nhiều năm đồng nghĩa với việc dòng vốn không được lưu thông, đất đai không được khai thác hiệu quả, cơ hội việc làm bị bỏ lỡ và nhiều nguồn lực xã hội bị lãng phí. Nếu tình trạng này kéo dài, chi phí cơ hội của nền kinh tế sẽ rất lớn.

Đó cũng là lý do trong thời gian qua Quốc hội đã phải ban hành nhiều cơ chế, nghị quyết đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, đồng thời thúc đẩy sửa đổi hàng loạt luật quan trọng như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), Luật Đấu thầu, Luật Quy hoạch…

Điểm đáng chú ý là tốc độ thể chế hóa trong lần cải cách này diễn ra khá nhanh. Nếu đi theo quy trình sửa đổi pháp luật thông thường, có thể sẽ mất rất nhiều năm mới xử lý được hết các điểm nghẽn hiện nay. Nhưng nền kinh tế thì không thể chờ và doanh nghiệp cũng không thể chờ đợi quá lâu.

Sau 1 năm Nghị quyết 68: 'Tư duy thay đổi, cải cách thể chế bắt đầu chuyển động'

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu các điểm nghẽn không được tháo gỡ kịp thời thì chi phí của sự chậm trễ sẽ không chỉ dừng lại ở thiệt hại của một doanh nghiệp hay một dự án cụ thể, mà sẽ ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.

Bên cạnh câu chuyện thể chế, doanh nghiệp tư nhân hiện nay cũng vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực phát triển, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, đất đai và cơ hội tham gia vào các dự án lớn.

Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn phản ánh rằng chi phí vốn còn cao, khả năng tiếp cận tín dụng chưa thực sự thuận lợi, trong khi các thủ tục liên quan tới đầu tư, đất đai hay xây dựng ở một số nơi vẫn còn kéo dài.

Ngoài ra, một vấn đề rất quan trọng là tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Doanh nghiệp có thể chấp nhận cạnh tranh thị trường, nhưng điều họ cần là một môi trường pháp lý đủ ổn định để có thể xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn.

Tôi cho rằng kết quả bước đầu sau một năm triển khai Nghị quyết 68 là rất đáng ghi nhận. Từ thay đổi tư duy đến thúc đẩy cải cách thể chế, chúng ta đã tạo ra được những chuyển động khá rõ ràng. Tuy nhiên, để tinh thần của Nghị quyết thực sự chuyển hóa thành lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp thì vẫn còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là ở khâu tổ chức thực thi.

Cuối cùng, điều quan trọng nhất là phải bảo đảm tinh thần cải cách được thực hiện một cách đồng bộ từ trung ương tới địa phương. Bởi nếu chủ trương rất tiến bộ nhưng khi triển khai lại phát sinh thêm thủ tục, thêm rào cản thì doanh nghiệp sẽ rất khó cảm nhận được đầy đủ hiệu quả của cải cách thể chế.

- Vậy, ông có khuyến nghị gì đối với cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh Nghị quyết 68 đang được triển khai mạnh mẽ?

TS. Phan Đức Hiếu: Có thể nói, Nghị quyết 68 đã chạm đúng vào điều mà cộng đồng doanh nghiệp mong đợi suốt nhiều năm qua, đó là xây dựng một môi trường đầu tư kinh doanh không chỉ thông thoáng hơn mà còn an toàn hơn, minh bạch hơn và giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn nằm ở khâu thực thi. Chúng ta có thể ban hành nghị quyết rất nhanh, thúc đẩy sửa đổi nhiều luật và cơ chế mạnh mẽ, nhưng chất lượng thực sự của cải cách cuối cùng phải được đo bằng những thay đổi mà doanh nghiệp và người dân cảm nhận được trong thực tế hằng ngày.

Doanh nghiệp chỉ thực sự có niềm tin để đầu tư dài hạn khi họ nhìn thấy môi trường kinh doanh ổn định hơn, thủ tục được xử lý minh bạch hơn, quyền tài sản được bảo đảm tốt hơn và các nguồn lực của nền kinh tế được vận hành thông suốt hơn. Khi những dự án tồn đọng được tháo gỡ nhanh hơn, các điểm nghẽn về quy hoạch, đầu tư hay thủ tục hành chính được xử lý hiệu quả hơn, thì khi đó tinh thần của Nghị quyết 68 mới thực sự đi vào cuộc sống.

Theo tôi, điều quan trọng nhất của cải cách lần này không chỉ là thay đổi về mặt tư duy, mà là tạo dựng được niềm tin cho doanh nghiệp. Niềm tin ở đây không đơn thuần là niềm tin vào chính sách, mà là niềm tin rằng môi trường đầu tư kinh doanh sẽ tiếp tục được cải thiện theo hướng ổn định, nhất quán và có khả năng dự báo cao hơn.

Dĩ nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận một thực tế rằng dù nhiều rào cản thể chế đã được tháo gỡ, nguy cơ xuất hiện những rào cản mới dưới các hình thức khác vẫn hoàn toàn có thể xảy ra nếu thiếu cơ chế giám sát hiệu quả trong quá trình thực thi. Vì vậy, việc triển khai Nghị quyết 68 không thể chỉ dựa vào nỗ lực của cơ quan quản lý Nhà nước mà cần sự tham gia chủ động của cả cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.

Về phía doanh nghiệp, tôi cho rằng đây cũng là thời điểm cần thay đổi mạnh mẽ tư duy phát triển. Khi môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh hơn, doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào ưu đãi hay hỗ trợ từ chính sách, mà phải chủ động nâng cao năng lực nội tại, cải thiện quản trị, đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng với những thay đổi mới của thị trường.

Nói cách khác, cải cách thể chế chỉ mở ra cơ hội và tạo “đường băng” thuận lợi hơn, còn doanh nghiệp có thể đi xa đến đâu vẫn phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của chính mình. Đây là quá trình hai chiều: Nhà nước kiến tạo môi trường phát triển, còn doanh nghiệp phải chủ động thích ứng, đổi mới và lớn lên bằng chính năng lực nội tại của mình.

Trân trọng cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global