Thứ 3, 15/09/2026 | English | Vietnamese
02:31:00 PM GMT+7Thứ 2, 14/09/2026
Công nghiệp văn hóa bao gồm nhiều ngành, mỗi ngành đều có giá trị và vai trò riêng. Nhưng nguồn lực của một quốc gia luôn có giới hạn. Nếu mọi lĩnh vực đều được coi là ưu tiên như nhau, rất có thể cuối cùng không lĩnh vực nào nhận đủ nguồn lực để tạo ra bước đột phá. Vì vậy, bên cạnh một hành lang chính sách chung, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần mở đường cho chiến lược lựa chọn những ngành, sản phẩm và tài sản trí tuệ có khả năng trở thành “mũi nhọn” của Việt Nam trong từng thời kỳ.
Nguồn lực hữu hạn không thể chia đều cho mọi ngành
Phát triển có trọng tâm không có nghĩa bỏ quên những ngành còn lại. Nó có nghĩa là Nhà nước phải nhận diện đâu là lĩnh vực Việt Nam có lợi thế rõ nhất, đâu là thị trường có khả năng tăng trưởng nhanh nhất, đâu là sản phẩm tạo hiệu ứng lan tỏa lớn nhất và đâu là những tài sản có khả năng trở thành thương hiệu quốc gia.
Dự thảo đã bước đầu thể hiện tư duy này thông qua khái niệm tài sản trí tuệ gốc trọng điểm và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm. Tiêu chí được đặt ra khá rộng: Giá trị văn hóa, xã hội và nghệ thuật; khả năng phát triển thành hệ sinh thái hàng hóa - dịch vụ; khả năng lan tỏa; nhu cầu thị trường; giá trị gia tăng; tiềm năng xuất khẩu và khả năng trở thành thương hiệu quốc gia. Danh mục sản phẩm trọng điểm sẽ được xác định theo từng thời kỳ. Cách tiếp cận đó là cần thiết. Trong chính sách công nghiệp, thành công hiếm khi đến từ việc chia nguồn lực thành những phần bằng nhau. Hàn Quốc không xây sức mạnh văn hóa bằng cách hỗ trợ tất cả các ngành ở một mức giống nhau. Nhật Bản, Anh hay Pháp cũng đều xác định những lĩnh vực có sức cạnh tranh và khả năng xuất khẩu cao để tạo lợi thế tích tụ.
Việt Nam cũng cần lựa chọn dựa trên năm tiêu chí: Lợi thế văn hóa đặc hữu, quy mô thị trường, khả năng tạo IP, tiềm năng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa sang các ngành khác. Những tiêu chí ấy phải được lượng hóa đến mức có thể đánh giá, rà soát và thay đổi theo từng giai đoạn, tránh việc một ngành đã được ghi tên là “mũi nhọn” thì mặc nhiên giữ vị trí đó mãi mãi. Quan trọng hơn, ưu tiên phải gắn với kết quả. Doanh nghiệp được hưởng chính sách đặc biệt phải tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, IP, giá trị xuất khẩu hoặc sức lan tỏa tương xứng. Chính sách công nghiệp văn hóa không nên trở thành một hình thức bao cấp mới.
Năm cụm ngành Việt Nam có thể tạo lợi thế
Trước hết là du lịch văn hóa, di sản và kinh tế trải nghiệm. Đây có lẽ là lợi thế tự nhiên rõ nhất của Việt Nam bởi di sản, cảnh quan, lịch sử, ẩm thực, làng nghề và bản sắc địa phương là những tài nguyên không thể sao chép. Nhưng cần chuyển từ tư duy khai thác di sản sang phát triển hệ sinh thái kinh tế quanh di sản. Một điểm đến có thể đồng thời tạo ra biểu diễn, phim ảnh, thiết kế, quà tặng, trải nghiệm số, ẩm thực, festival và sản phẩm giáo dục.
Thứ hai là điện ảnh, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn. Đây là nhóm ngành tạo hiệu ứng truyền thông và sức mạnh mềm rất nhanh. Một bộ phim hay một concert không chỉ tạo doanh thu trực tiếp mà còn tác động tới thời trang, quảng cáo, du lịch, dịch vụ và hình ảnh quốc gia. Việt Nam đang có một thị trường nội địa đủ lớn để nuôi dưỡng sản phẩm trước khi đưa chúng ra khu vực.
Thứ ba là game, nội dung số và các sản phẩm sáng tạo dựa trên công nghệ. Ưu thế lớn của lĩnh vực này là khả năng mở rộng mà không phụ thuộc nhiều vào biên giới vật lý. Một sản phẩm được phát triển tại Việt Nam có thể bán cho hàng triệu người ở thị trường toàn cầu. Với lực lượng kỹ sư trẻ, năng lực công nghệ và sự phổ biến của kinh tế số, đây là nhóm ngành có khả năng tạo những doanh nghiệp quy mô quốc tế nếu giải được bài toán IP, vốn và phát hành.
Thứ tư là thiết kế sáng tạo, thời trang và thủ công mỹ nghệ. Việt Nam sở hữu kho kỹ thuật thủ công, chất liệu bản địa và mỹ thuật truyền thống đặc sắc nhưng lâu nay phần lớn giá trị nằm ở khâu sản xuất. Nếu kết hợp thiết kế hiện đại, thương hiệu, kể chuyện sản phẩm và thương mại điện tử, hàng thủ công có thể bước khỏi phân khúc giá thấp để trở thành sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao.
Và cuối cùng, cần coi hệ sinh thái IP Việt Nam là một trục xuyên suốt chứ không chỉ một ngành. Lịch sử, truyền thuyết, văn học, di sản và đời sống đương đại chứa đựng vô số câu chuyện và nhân vật có khả năng phát triển thành phim, hoạt hình, game, xuất bản, đồ chơi, thời trang và du lịch. Một quốc gia mạnh về công nghiệp văn hóa không chỉ bán từng tác phẩm; quốc gia ấy sở hữu những IP có thể tạo giá trị qua nhiều thế hệ. Dự thảo đã đặt ưu tiên cho tài sản trí tuệ gốc, sản phẩm có hàm lượng bản sắc Việt Nam và sản phẩm có khả năng xuất khẩu. Đây chính là cơ sở để chính sách đi từ dàn trải sang lựa chọn có chiến lược.
Một đạo luật tốt phải tạo được những “người thắng cuộc mới”
Nếu coi Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là một đạo luật kiến tạo, điều quan trọng nhất sau cùng không phải là có bao nhiêu cơ chế được ghi vào văn bản, mà là sau 5 năm hay 10 năm sẽ xuất hiện những gì mới trong đời sống kinh tế. Có thêm bao nhiêu doanh nghiệp công nghiệp văn hóa đủ sức cạnh tranh khu vực? Bao nhiêu thương hiệu Việt được nhận diện quốc tế? Bao nhiêu IP gốc tạo được hệ sinh thái sản phẩm? Bao nhiêu tác phẩm và dịch vụ trở thành hàng xuất khẩu? Bao nhiêu khu sáng tạo hoạt động thực chất? Bao nhiêu lao động trẻ lựa chọn công nghiệp văn hóa như một nghề nghiệp hấp dẫn?
Để đạt được điều đó, bên cạnh các cơ chế đã có trong dự thảo, cần tiếp tục cân nhắc một số hướng chính sách. Trước hết là luật hóa rõ nguyên tắc lựa chọn ngành, sản phẩm trọng điểm theo từng thời kỳ và xây dựng một Chương trình quốc gia phát triển IP Việt Nam. Nhà nước có thể lựa chọn một số IP có giá trị đặc biệt để hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, bảo hộ và thương mại hóa theo cơ chế cạnh tranh.
Thứ hai, cần phát triển các doanh nghiệp đầu đàn đủ khả năng dẫn dắt chuỗi. Công nghiệp văn hóa không chỉ gồm những tập đoàn lớn, nhưng một hệ sinh thái muốn đi ra quốc tế vẫn cần những doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư, phân phối và kéo theo hàng trăm studio, nhà sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ tham gia.
Thứ ba, cơ chế sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm phải đi kèm hệ thống định giá, dữ liệu và bảo lãnh tín dụng đủ mạnh. Nếu chỉ quy định quyền mà không giải quyết cách ngân hàng quản trị rủi ro, chính sách rất dễ dừng trên giấy.
Thứ tư, cần mở mạnh hơn các cơ chế tái sử dụng tài sản công cho sáng tạo; hình thành “một cửa” đối với dự án văn hóa lớn; hoàn thiện công cụ bảo vệ bản quyền số; có chính sách thích ứng với AI và các mô hình sáng tạo mới. Cùng với đó là hệ thống thống kê đủ chính xác để biết ngành nào đang tạo doanh thu, kim ngạch xuất khẩu và việc làm, bởi không thể đầu tư hiệu quả cho một lĩnh vực mà ngay quy mô thị trường cũng chưa được đo lường đầy đủ.
Cuối cùng, mọi ưu đãi phải có điều kiện, thời hạn và kết quả đầu ra. Dự thảo đã nhấn mạnh nguyên tắc hỗ trợ đúng đối tượng, công khai, minh bạch, có thời hạn và gắn với kết quả. Đây cần trở thành “van an toàn” của toàn bộ chính sách. Một đạo luật tốt không tạo ra doanh nghiệp thành công bằng mệnh lệnh hành chính. Nó tạo ra môi trường để những người có ý tưởng, tài năng và năng lực kinh doanh có cơ hội thành công nhiều hơn. Nhà nước không lựa chọn ai sẽ trở thành đạo diễn nổi tiếng, ca sĩ quốc tế hay nhà phát triển game triệu người dùng. Nhà nước tạo ra đường đi để những người có khả năng ấy không bị chặn lại bởi những rào cản đáng lẽ có thể tháo gỡ.
Đó cũng là kỳ vọng lớn nhất đối với Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Không chỉ tháo gỡ những điểm nghẽn đang tồn tại, mà tạo ra một cấu trúc phát triển mới, trong đó tài nguyên văn hóa được đánh thức, tài sản trí tuệ được lưu thông, nguồn lực xã hội được huy động và sức sáng tạo của con người Việt Nam có thể đi xa hơn. Khi ấy, văn hóa không chỉ là cái chúng ta gìn giữ từ quá khứ. Văn hóa còn là thứ chúng ta có thể sáng tạo hôm nay, bán ra thế giới ngày mai và trao lại cho tương lai như một nguồn lực ngày càng sinh sôi.

02:51:00 PM GMT+7Thứ 2, 14/09/2026

02:41:00 PM GMT+7Thứ 2, 14/09/2026

02:34:00 PM GMT+7Thứ 2, 14/09/2026
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global