Theo quy hoạch đến năm 2050, thành phố có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 49.000ha. Hiện, thành phố đã có 67 khu được thành lập; trong đó, 58 khu đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%, thu hút hơn 5.300 dự án đầu tư.
Yêu cầu tất yếu
Công ty cổ phần Cao-su Phước Hòa (PHR), xã Phước Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đơn vị tiên phong phát triển hạ tầng khu công nghiệp. Hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững và xanh hóa khu công nghiệp, PHR đang nghiên cứu triển khai mô hình Green Industrial Park và Net Zero Industrial Park (khu công nghiệp xanh và khu công nghiệp không phát thải). Mô hình này được kỳ vọng mang lại hiệu quả cao trên các phương diện năng lượng, kinh tế, môi trường, xã hội và quản trị. PHR đã nghiên cứu 10 khu vực có tiềm năng điện mặt trời phục vụ khu công nghiệp, cụm công nghiệp với tổng công suất hơn 391MWp.
Theo ông Lê Thanh Toàn, Phó Trưởng phòng Phát triển và Quản lý khu công nghiệp của PHR, mô hình đã góp phần gia tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính, hỗ trợ thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, đồng thời tạo điều kiện phát triển các khu công nghiệp sinh thái, thu hút đầu tư chất lượng cao, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Quy mô công nghiệp lớn cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về giảm phát thải. Công nghiệp của thành phố thời gian qua chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải cao, không còn phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới. Việc mở rộng không gian sau hợp nhất càng làm cho yêu cầu chuyển đổi khu công nghiệp xanh, sinh thái trở nên cấp thiết, bởi thành phố vừa là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước, vừa hội tụ những nguồn phát thải khí nhà kính tập trung nhất.
Ông Trần Văn Bích, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu phát triển kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Xét theo cơ cấu giá trị sản phẩm tiêu thụ, nhóm ngành có mức phát thải rất cao chiếm 12,07%, phát thải cao chiếm 18,71%, phát thải trung bình chiếm 43,02% và phát thải thấp chiếm 26,2%. So với trước đây, cơ cấu công nghiệp của thành phố đang chuyển dịch theo hướng phát thải thấp hơn khi phần lớn giá trị sản phẩm công nghiệp thuộc nhóm phát thải trung bình và thấp.
Trong khi đó, nhóm ngành có mức phát thải rất cao chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ. Xu hướng tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp đang trở thành tiêu chuẩn chung của nền kinh tế thế giới, đặt ra cho các khu công nghiệp, doanh nghiệp thành phố sức ép phải chuyển đổi nhanh hơn nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Cho nên, chuyển đổi các khu công nghiệp theo định hướng phát thải thấp, tiến tới Net Zero không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là điều kiện mới để duy trì năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Chuyển đổi xanh trước đây là xu hướng, nhưng bây giờ đã trở thành hiện thực. Hiện, thành phố là trung tâm công nghiệp lớn nhất nước đang đứng trước yêu cầu kép: Vừa giữ vững vai trò đầu tàu tăng trưởng cả nước, vừa phải chuyển đổi xanh, giảm phát thải, hướng đến mục tiêu Net Zero của Việt Nam vào năm 2050. Thành phố phấn đấu hoàn thành Net Zero trước mục tiêu quốc gia 5 năm.
Hướng tới Net Zero
Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt những bước tiến ban đầu trong chuyển đổi xanh tại các khu công nghiệp. Khu vực công nghiệp chuyển dịch theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải. Một số tiêu chí như hiệu quả sử dụng điện năng, kiểm soát phát thải và áp dụng công nghệ sạch đã đạt mức “thực thi” ở một bộ phận doanh nghiệp.
Điểm sáng nổi bật là chương trình thí điểm chuyển đổi khu công nghiệp Hiệp Phước sang mô hình khu công nghiệp sinh thái với sự hỗ trợ của UNIDO (Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc) giúp các doanh nghiệp tham gia cắt giảm gần 23.000 tấn CO2 mỗi năm và tiết kiệm khoảng 66 tỷ đồng chi phí sản xuất.
Khu vực mở rộng cũng đã hình thành các điển hình xanh: Một số khu công nghiệp như VSIP I và II đạt chứng chỉ khu công nghiệp sinh thái của UNIDO, giảm khoảng 25% năng lượng và 30% nước thải; khu công nghiệp Phú Mỹ giảm khoảng 15% năng lượng tiêu thụ nhờ hệ thống quản lý thông minh.
Quan điểm của Thành phố Hồ Chí Minh về chuyển đổi xanh là đến năm 2030, tỷ lệ khu công nghiệp triển khai mô hình sinh thái đạt khoảng 20% và năm 2035 tăng lên khoảng 30%. Đến năm 2030, toàn bộ khu công nghiệp và cụm công nghiệp lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà, bảo đảm ít nhất 20% điện tiêu thụ đến từ năng lượng tái tạo; đồng thời tăng tỷ lệ cơ sở áp dụng công nghệ sạch, mở rộng cộng sinh công nghiệp, nâng tỷ lệ tái chế chất thải rắn, tái sử dụng nước thải và chứng nhận ISO.
Chuyển đổi khu công nghiệp theo định hướng Net Zero hiện gặp ba điểm nghẽn lớn: Chi phí vốn; tiêu chuẩn và dữ liệu; quy mô dự án. Từ ba điểm nghẽn này, có thể thấy tài chính xanh cho khu công nghiệp không chỉ là vấn đề có ngân hàng cho vay hay không, mà là thiết kế một kiến trúc tài chính tổng thể. Kiến trúc đó cần kết nối chính sách, tiêu chuẩn, dữ liệu, công cụ tài chính, cơ chế bảo lãnh, nhà đầu tư và thị trường đầu ra cho tín chỉ các-bon hoặc sản phẩm phát thải thấp.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Thành phố Hồ Chí Minh cần lựa chọn một số khu công nghiệp để thí điểm mô hình tài chính xanh cấp phân khu. Các khu thí điểm nên có sự sẵn sàng về hạ tầng, doanh nghiệp, dữ liệu, nhu cầu chuyển đổi và khả năng phối hợp tổ chức tài chính. Không nên triển khai dàn trải ngay từ đầu, mà cần làm thí điểm có chiều sâu, đo lường kết quả rõ ràng, sau đó nhân rộng.
Với quy mô công nghiệp lớn nhất cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế để hình thành các khu công nghiệp sinh thái quy mô lớn. Tuy nhiên, để mục tiêu Net Zero không dừng ở định hướng, thành phố cần tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, tiêu chuẩn, dữ liệu và cơ chế, chính sách. Khi đó, chuyển đổi xanh sẽ không chỉ là yêu cầu môi trường mà còn trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nền công nghiệp thành phố trong chuỗi giá trị toàn cầu.



