Thứ 4, 02/09/2026 | English | Vietnamese
06:40:00 PM GMT+7Thứ 3, 01/09/2026
Không chỉ tăng nhanh về quy mô, đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển dần từ mở rộng thị trường sang xây dựng chuỗi cung ứng, hạ tầng và năng lực sản xuất tại nước sở tại.
Chỉ trong 7 tháng năm 2026, tổng vốn đăng ký đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần cùng kỳ và cao hơn khoảng 73% so với cả năm 2025, cho thấy quy mô đầu tư ra thị trường quốc tế đang tăng mạnh.
Dữ liệu từ Cục Thống kê và Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho thấy dòng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đang tăng nhanh qua từng năm.
Theo đó, tổng vốn cấp mới và điều chỉnh đạt 664,8 triệu USD năm 2024, tăng 57,7% so với năm trước. Đến năm 2025, con số này tăng lên 1,362 tỷ USD, tăng 88,7%.
Đà tăng còn mạnh hơn trong năm 2026. Theo Cục Thống kê, trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam có 106 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp mới với tổng vốn 1,17 tỷ USD, gấp 2,9 lần cùng kỳ; 23 lượt dự án điều chỉnh tăng thêm 1,19 tỷ USD, gấp 9,2 lần. Tổng vốn cấp mới và điều chỉnh đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần cùng kỳ năm 2025.
Như vậy, vốn đăng ký trong 7 tháng đã cao hơn khoảng 73% so với cả năm 2025 và gấp hơn 3,5 lần năm 2024, cho thấy quy mô cam kết đầu tư xuyên biên giới của doanh nghiệp Việt Nam tăng rõ rệt.
Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở tổng vốn mà còn ở cơ cấu giữa vốn mới và vốn bổ sung. Trong 7 tháng 2026, vốn cấp mới đạt 1,17 tỷ USD, trong khi vốn điều chỉnh tăng thêm đạt 1,19 tỷ USD, tức vốn bổ sung cho các dự án hiện hữu chiếm hơn một nửa tổng vốn đăng ký trong kỳ.
Diễn biến này nối tiếp một chuyển động đã xuất hiện từ năm 2025. Báo cáo thường niên của Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho thấy riêng khu vực doanh nghiệp tư nhân năm 2025 có 90 dự án đầu tư ra nước ngoài, giảm 24,4% so với năm trước, nhưng vốn đăng ký lại tăng 11,7%, lên 659,1 triệu USD. Theo VAFIE, điều này phản ánh xu hướng tập trung nguồn lực vào các dự án quy mô lớn hơn thay vì đầu tư dàn trải.
Cơ cấu ngành năm 2026 cũng cho thấy dòng vốn lớn đang gắn ngày càng chặt với hạ tầng và chuỗi cung ứng.
Trong 7 tháng, vận tải và kho bãi đứng đầu với hơn 601,6 triệu USD, chiếm 25,5% tổng vốn. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt đứng thứ hai với hơn 585,8 triệu USD, chiếm 24,8%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt hơn 487,3 triệu USD, chiếm 20,6%. Cục Thống kê cho biết xây dựng nhận thêm gần 209 triệu USD, tương đương 8,8%.
Bốn lĩnh vực này chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trong 7 tháng.
Cơ cấu này khác đáng kể so với danh mục đầu tư lũy kế của Việt Nam. Đến cuối tháng 7/2026, khai khoáng vẫn là lĩnh vực lớn nhất với trên 7 tỷ USD, chiếm 27%; nông, lâm nghiệp và thủy sản hơn 3,8 tỷ USD, chiếm 15%; thông tin và truyền thông hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 11%.
Điều này cho thấy cơ cấu vốn mới đang khác dần cơ cấu tích lũy trước đây. Khai thác tài nguyên vẫn giữ tỷ trọng lớn trong danh mục dài hạn, nhưng dòng vốn năm 2026 nổi lên mạnh ở vận tải, logistics, năng lượng và nông nghiệp.
Xu hướng gắn đầu tư với chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng đã được VAFIE ghi nhận từ năm 2025. Ngoài năng lượng, vốn còn được phân bổ đáng kể vào chế biến chế tạo, thương mại và vận tải-kho bãi, cho thấy doanh nghiệp ngày càng gắn hoạt động ở nước ngoài với sản xuất, logistics và xuất nhập khẩu.
Các mô hình đầu tư cũng ngày càng đa dạng. Viettel đi ra nước ngoài bằng hạ tầng viễn thông và dịch vụ số, kết hợp bản địa hóa thương hiệu. FPT quốc tế hóa dịch vụ công nghệ, đồng thời mở rộng lên AI, Cloud và Data Analytics. TH Group xây dựng cả chuỗi chăn nuôi, chế biến và thương hiệu tại thị trường sở tại. Petrovietnam đầu tư vào tài nguyên gắn với mục tiêu năng lượng dài hạn.
VinFast là một trường hợp đáng chú ý khác về xu hướng xây dựng năng lực sản xuất trực tiếp tại thị trường nước ngoài. Năm 2025, hãng đưa vào hoạt động hai nhà máy ở nước ngoài. Nhà máy tại Tamil Nadu, Ấn Độ, khánh thành tháng 8 với công suất thiết kế giai đoạn 1 là 50.000 xe/năm và cam kết đầu tư tới 500 triệu USD trong 5 năm. Tháng 12, nhà máy tại Subang, Indonesia đi vào hoạt động với công suất giai đoạn 1 khoảng 50.000 xe/năm.
VAFIE khái quát sự thay đổi này là quá trình từ "đi ra ngoài để tìm cơ hội" sang "đi ra ngoài để xây dựng vị thế". Doanh nghiệp không chỉ bán hàng hoặc đặt văn phòng đại diện mà từng bước xây dựng hạ tầng, thương hiệu, công nghệ và chuỗi giá trị tại nước sở tại.
Phạm vi địa lý của đầu tư Việt Nam tiếp tục mở rộng, dù dòng vốn lớn vẫn tập trung tại các thị trường trong khu vực.
Trong 7 tháng năm 2026, doanh nghiệp Việt đầu tư tại 35 quốc gia và vùng lãnh thổ. Lào đứng đầu với hơn 638,2 triệu USD, chiếm 27% tổng vốn; Campuchia đứng thứ hai với hơn 449,8 triệu USD, chiếm 19%; Indonesia đứng thứ ba với 308,6 triệu USD, chiếm 13,1%.
Ba thị trường này chiếm khoảng 59% tổng vốn đăng ký, cho thấy ASEAN và các thị trường lân cận vẫn giữ vai trò trung tâm dù địa bàn đầu tư đang đa dạng hơn.
So với năm 2025, mức độ tập trung vào Lào đã giảm. Tính đến cuối tháng 12/2025, Lào chiếm khoảng 51% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, trong khi Philippines chiếm 8,1%, Mỹ 6,5% và Indonesia 6,1%.
Đến 7 tháng năm 2026, tỷ trọng của Lào giảm còn 27%, trong khi Campuchia và Indonesia tăng lên. Biến động trong một kỳ chưa đủ để khẳng định xu hướng dài hạn, nhưng cho thấy vốn mới đang được phân bổ rộng hơn trong khu vực.
Nhìn trên toàn bộ danh mục, độ phủ quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam đã rộng hơn nhiều. Đến hết tháng 7/2026, Việt Nam có 2.075 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn trên 26,1 tỷ USD, hiện diện tại 88 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Sự mở rộng đang diễn ra theo hai hướng. Doanh nghiệp tiếp tục khai thác các thị trường truyền thống, gần về địa lý như Lào, Campuchia và ASEAN, đồng thời mở rộng sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu và các nền kinh tế có trình độ công nghệ cao hơn.
Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn chưa đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư tăng tương ứng. VAFIE chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp vẫn hạn chế về quy mô tài chính, kinh nghiệm quốc tế và năng lực quản trị rủi ro. Một số dự án triển khai chậm, gặp khó khăn về thị trường, pháp luật hoặc biến động chính sách tại nước tiếp nhận; việc theo dõi chuyển vốn, thu hồi vốn và lợi nhuận về nước ở một số trường hợp còn chưa kịp thời.
Đầu tư xuyên biên giới cũng đặt doanh nghiệp trước rủi ro tỷ giá, chính trị, thay đổi chính sách, khác biệt pháp luật và chi phí quản trị cao hơn. Các lĩnh vực dầu khí, khoáng sản hay nông nghiệp còn chịu thêm rủi ro về giá hàng hóa và điều kiện tự nhiên.
Khung pháp lý trong nước đồng thời đang được điều chỉnh. Nghị định 103/2026/NĐ-CP về đầu tư ra nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 3/4/2026, quy định về điều kiện, nguồn vốn, thủ tục, chế độ báo cáo và quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Đầu tư ra nước ngoài đang trở thành một cấu phần ngày càng đáng chú ý trong quá trình quốc tế hóa của doanh nghiệp Việt. Quy mô vốn tăng, các dự án hiện hữu được mở rộng và dòng vốn mới ngày càng gắn với logistics, năng lượng, sản xuất và chuỗi cung ứng.
Sau giai đoạn tăng nhanh về lượng, phép thử quan trọng hơn sẽ là khả năng chuyển vốn đầu tư thành dòng tiền, năng lực cạnh tranh và vị thế dài hạn của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

06:46:00 PM GMT+7Thứ 3, 01/09/2026

06:45:00 PM GMT+7Thứ 3, 01/09/2026

06:43:00 PM GMT+7Thứ 3, 01/09/2026
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global