Thứ 5, 15/10/2026 | English | Vietnamese
05:23:00 PM GMT+7Thứ 4, 14/10/2026
Thời gian gần đây xuất hiện một số thông tin, bình luận sai lệch, chưa hiểu đúng, thậm chí xuyên tạc đường lối, chính sách quản lý ngành điện, trong đó có đề xuất tách Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia khỏi EVN.
Trên một số diễn đàn mạng đang lan truyền nội dung cho rằng lãnh đạo cấp cao “chuẩn bị cho tư nhân hóa ngành điện”. Nhận định này xuất phát từ đề xuất sớm tách Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) khỏi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), được Bộ Công Thương thông tin tại họp báo thường kỳ quý III ngày 7/10/2026. Đây là đề xuất thuộc Đề án tái cơ cấu ngành điện phục vụ phát triển thị trường điện cạnh tranh các cấp độ, do Bộ Công Thương xây dựng theo nhiệm vụ Chính phủ giao. Chỉ một chữ "tách" được kéo thành chữ "bán", rồi từ chữ "bán" dựng lên cả một động cơ chính trị.
EVN đẩy mạnh đầu tư hạ tầng điện, đáp ứng nhu cầu phụ tải.
Không phải mọi ý kiến quanh chủ trương này đều cùng một tính chất, có luận điệu xuyên tạc, gán động cơ cho chủ trương của Đảng và Nhà nước. Có lập luận chưa đúng, diễn đạt lệch chữ của luật hoặc dẫn kinh nghiệm quốc tế một chiều. Có những điểm thông tin còn chưa rõ, dễ bị khai thác. Và có những ý kiến còn khác nhau một cách chính đáng giữa các cơ quan, các chuyên gia về lộ trình, đầu mối, nguồn vốn. Với từng vấn đề cần có cách tiếp cận phù hợp: kiên quyết phản bác các luận điệu xuyên tạc; phân tích, chỉ rõ những lập luận chưa chính xác; làm sáng tỏ những nội dung còn chưa rõ; đồng thời, với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, cần phản ánh khách quan, đa chiều để cơ quan có thẩm quyền xem xét, cân nhắc.
Đánh tráo khái niệm
Luận điệu “tách là tư nhân hóa” đã đánh đồng việc thay đổi đầu mối quản lý với việc chuyển giao sở hữu. Từ đề xuất tách EVNNPT khỏi EVN, một số người suy diễn rằng lưới điện truyền tải sẽ vào tay tư nhân, nhưng không chỉ ra được căn cứ về việc bán vốn nhà nước hay chuyển quyền sở hữu cho nhà đầu tư tư nhân.
Trong khi đó, phương án Cục Điện lực nêu tại họp báo là tách EVNNPT khỏi EVN, chuyển về bộ, ngành quản lý. Về bản chất, đây là việc tổ chức lại doanh nghiệp trong khu vực nhà nước, thay đổi đầu mối quản lý, không đồng nghĩa với thay đổi chủ sở hữu từ Nhà nước sang tư nhân. Đề xuất này không có nội dung chào bán cổ phần hay chuyển nhượng lưới điện truyền tải cho nhà đầu tư tư nhân. Vì vậy, không thể lấy việc tách EVNNPT khỏi EVN làm căn cứ để kết luận “tư nhân hóa ngành điện”.
Có thể hình dung một cột điện 500kV ở giữa cánh đồng: Khi EVNNPT được tách khỏi EVN theo phương án chuyển về bộ, ngành quản lý, như vậy đầu mối quản lý có thể thay đổi, nhưng quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản vẫn được giữ nguyên. Thay đổi tổ chức quản lý không đồng nghĩa với chuyển tài sản sang sở hữu tư nhân.
Vấn đề cốt lõi của việc tách bạch là hạn chế nguy cơ xung đột lợi ích khi cùng một tập đoàn vừa quản lý hạ tầng truyền tải, vừa tham gia phát điện và mua bán điện. Là hạ tầng dùng chung của thị trường, lưới điện truyền tải cần được quản lý, vận hành theo nguyên tắc công bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham gia.
Tách bạch hoạt động truyền tải với phát điện, mua bán điện nhằm tăng tính độc lập của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền tải, hạn chế khả năng lợi ích của bên này ảnh hưởng đến quyền tiếp cận lưới điện của bên khác. Các nhà máy điện thuộc mọi thành phần kinh tế phải được xem xét đấu nối theo cùng quy định, phù hợp với điều kiện kỹ thuật và khả năng đáp ứng của hệ thống.
Lợi ích mà phương án này hướng tới là tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho doanh nghiệp, làm rõ chi phí truyền tải trong cơ cấu giá điện và nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước. Những lợi ích đó cần được hiện thực hóa bằng cơ chế tổ chức, vận hành và giám sát phù hợp, thay vì chỉ thay đổi đầu mối quản lý.
Nội dung không đổi và thay đổi theo Điều 5 Luật Điện lực 2024.
Quan điểm của Đảng: Nhà nước kiểm soát hạ tầng, thị trường vận hành cạnh tranh
Vì sao Nhà nước cần nắm giữ, kiểm soát hạ tầng truyền tải điện chiến lược? Điện lực là nền tảng vật chất thiết yếu của nền kinh tế, gắn trực tiếp với đời sống nhân dân, quốc phòng, an ninh và năng lực tự chủ quốc gia. Từ năm 1920, V.I. Lênin đã nhấn mạnh vai trò nền tảng của điện lực bằng công thức: “Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc” (V.I. Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 36). Với vai trò kết nối các nguồn điện và chuyển tải điện năng đến các vùng phụ tải, hạ tầng truyền tải chiến lược cần được Nhà nước kiểm soát để bảo đảm lợi ích lâu dài của đất nước.
Chủ trương của Đảng xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và vai trò của các thành phần kinh tế trong phát triển năng lượng. Quan điểm thứ nhất của Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia nêu: “Nhà nước kiến tạo thể chế, chính sách đột phá và kiểm soát hạ tầng năng lượng chiến lược; người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể phát triển năng lượng quốc gia, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất".
Theo định hướng đó, phát huy nguồn lực tư nhân và giữ quyền kiểm soát của Nhà nước đối với hạ tầng năng lượng chiến lược là hai nhiệm vụ bổ trợ cho nhau. Nhà nước bảo đảm hạ tầng cốt lõi phục vụ an ninh năng lượng và lợi ích chung, đồng thời tạo môi trường minh bạch, công bằng để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển năng lượng.
EVN ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành.
Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước khẳng định "Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" và đặt nhiệm vụ phân định rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế, chức năng thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tách lưới khỏi khâu mua bán điện là phân định cho rạch ròi những chức năng ấy, trong khi quyền kiểm soát vẫn nằm trọn trong tay Nhà nước.
Cần phân biệt rõ cổ phần hóa, thoái vốn tại các tổng công ty phát điện với việc tổ chức lại đơn vị truyền tải điện. Đề xuất đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn mà Bộ Công Thương nêu hướng tới khâu phát điện có tính cạnh tranh, gắn với lộ trình thực hiện theo Nghị quyết số 79-NQ/TW. Trong khi đó, phương án tách EVNNPT khỏi EVN, chuyển về bộ, ngành quản lý là thay đổi đầu mối quản lý trong khu vực nhà nước. Hai phương án khác nhau về đối tượng, mục tiêu và tác động đến sở hữu. Vì vậy, không thể lấy chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp phát điện làm căn cứ để suy diễn rằng việc tách EVNNPT là “bán lưới điện”.
Tách không đồng nghĩa với bán: Chuyện của thế giới
Một số thông tin còn xuyên tạc rằng Việt Nam làm không đúng thông lệ quốc tế. Kẻ dựng chuyện thường viện "thế giới" làm bằng. Vậy hãy nhìn thế giới.
Năm 2002, Trung Quốc triển khai cải cách điện lực theo Văn kiện số 5 của Quốc vụ viện, tách khâu phát điện khỏi hoạt động lưới điện, tổ chức lại Công ty Điện lực Nhà nước thành hai công ty lưới điện và năm tập đoàn phát điện, cùng các doanh nghiệp dịch vụ phụ trợ. Hai công ty lưới điện chủ chốt là State Grid và China Southern Power Grid vẫn thuộc khu vực nhà nước. Trường hợp này cho thấy tách bạch phát điện với lưới điện không đồng nghĩa với tư nhân hóa hạ tầng điện.
Ấn Độ thực hiện tách bạch từng bước. Đơn vị vận hành hệ thống điện POSOCO, nay là GRID-INDIA, hoạt động độc lập với POWERGRID từ ngày 3/1/2017. Chức năng quy hoạch và phối hợp phát triển hệ thống truyền tải liên bang được tổ chức thành pháp nhân riêng là CTUIL, thành lập tháng 12/2020 và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ từ ngày 1/4/2021, nhưng vẫn là công ty con do POWERGRID sở hữu toàn bộ vốn. POWERGRID tiếp tục là doanh nghiệp truyền tải điện do Nhà nước nắm cổ phần chi phối.
Tại Ba Lan, đơn vị truyền tải điện PSE hoạt động theo mô hình tách bạch hoàn toàn về sở hữu với các hoạt động phát điện và kinh doanh điện, nhưng vẫn thuộc sở hữu nhà nước toàn bộ. Những trường hợp này cho thấy tách bạch chức năng, tổ chức doanh nghiệp và thay đổi sở hữu là những vấn đề khác nhau; không thể đồng nhất việc tách đơn vị truyền tải với tư nhân hóa lưới điện.
Các công trình điện góp phần tăng cường năng lực cung ứng điện.
Tại Nam Phi, Công ty Truyền tải điện quốc gia (NTCSA) bắt đầu hoạt động với tư cách pháp nhân riêng trong tập đoàn Eskom từ tháng 7/2024. Đến tháng 12/2025, nước này vẫn lựa chọn giữ tài sản lưới điện trong NTCSA thuộc sở hữu nhà nước, đồng thời triển khai tái cơ cấu thận trọng nhằm hạn chế tác động đến tình hình tài chính của Eskom trong bối cảnh tập đoàn mẹ chịu gánh nặng nợ lớn.
Bốn quốc gia lựa chọn những lộ trình khác nhau, nhưng cùng cho thấy việc tách bạch các khâu trong ngành điện không đồng nghĩa với tư nhân hóa lưới điện. Ngay tại Vương quốc Anh, quốc gia tiên phong trong làn sóng tư nhân hóa ngành điện từ năm 1989, Nhà nước cũng mua lại đơn vị vận hành hệ thống điện với giá 630 triệu bảng, làm cơ sở thành lập Đơn vị Vận hành hệ thống năng lượng quốc gia (NESO), hoạt động từ ngày 1/10/2024. Đây là việc đưa chức năng vận hành hệ thống về khu vực nhà nước, cần phân biệt với quyền sở hữu tài sản lưới điện.
Tại Việt Nam, việc tổ chức lại khâu điều độ cũng nhằm tăng tính độc lập trong vận hành hệ thống điện và thị trường điện. Theo các Quyết định số 752/QĐ-TTg và 753/QĐ-TTg ngày 1/8/2024, Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia được chuyển thành Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), đồng thời chuyển quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại công ty về Bộ Công Thương. Bản chất của bước đi này là thay đổi mô hình tổ chức và đầu mối đại diện chủ sở hữu trong khu vực nhà nước.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình tách bạch duy nhất cho ngành điện. Chỉ thị 2019/944 của Liên minh châu Âu quy định các mô hình với điều kiện áp dụng cụ thể: Tách bạch sở hữu; đơn vị vận hành hệ thống độc lập; hoặc đơn vị truyền tải độc lập trong tập đoàn điện lực. Điểm chung là bảo đảm tính độc lập của hoạt động truyền tải và quyền tiếp cận lưới điện công bằng.
Tại Pháp, RTE được tổ chức thành pháp nhân riêng, với toàn bộ vốn do CTE nắm giữ. Các cổ đông của CTE gồm EDF, Caisse des Dépôts và CNP Assurances. Tại Hoa Kỳ, Lệnh số 888 năm 1996 của Ủy ban Điều tiết năng lượng liên bang yêu cầu cung cấp dịch vụ truyền tải theo nguyên tắc tiếp cận mở, không phân biệt đối xử, nhưng không bắt buộc tách bạch sở hữu.
Hàn Quốc lựa chọn lộ trình khác, tách sáu công ty phát điện năm 2001, nhưng không tiếp tục tách khâu truyền tải, giữ lưới điện trong KEPCO. Đến tháng 9/2026, kế hoạch cải cách của Chính phủ nước này còn tính đến phương án hợp nhất năm công ty phát điện thành một.
Những cách tiếp cận khác nhau cho thấy cần đánh giá cải cách ngành điện bằng khả năng bảo đảm cạnh tranh công bằng, vận hành minh bạch và an ninh cung ứng. Việc tách hay hợp nhất doanh nghiệp tự nó không quyết định tính chất sở hữu; muốn kết luận có tư nhân hóa hay không, phải xem xét cụ thể việc chuyển giao vốn và quyền sở hữu tài sản.
Bốn cấp tách truyền tải.
Các nghiên cứu quốc tế phân biệt rõ tách bạch ngành điện với tư nhân hóa. Trong Sổ tay Palgrave về kinh tế năng lượng quốc tế (2022), A. Bonzanni nêu bốn cấp độ tách bạch: Kế toán, vận hành, pháp lý và sở hữu. Hai quá trình tách bạch và tư nhân hóa có thể đi cùng nhau, nhưng không tất yếu. Ba Lan là một ví dụ: Các công ty truyền tải điện và khí được tách hoàn toàn khỏi hoạt động kinh doanh năng lượng, song vẫn thuộc sở hữu nhà nước.
Tác giả cũng lưu ý không có mô hình chung cho mọi quốc gia. Lựa chọn phụ thuộc vào thể chế và năng lực quản lý; bằng chứng định lượng về hiệu quả tách lưới còn chưa thống nhất. Vì vậy, tách bạch cần đi cùng cơ quan điều tiết đủ năng lực, giá truyền tải minh bạch và quy tắc đấu nối công bằng.
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2019 cho thấy phần lớn các nước đang phát triển áp dụng mô hình kết hợp: Thị trường cùng tồn tại với doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chi phối, còn vốn tư nhân chủ yếu tham gia phát điện. Báo cáo cùng năm của IEA cũng đặt việc lựa chọn mức độ tách bạch, cạnh tranh và tư nhân hóa trong khuôn khổ pháp lý của từng nước. Những nghiên cứu này cho thấy bán lưới điện không phải đích đến bắt buộc của cải cách.
Điểm chung của các nền kinh tế được khảo sát là bảo đảm tính trung lập của lưới điện: Các nhà máy được tiếp cận công bằng, không phân biệt đối xử; giá truyền tải minh bạch; hoạt động điều độ độc lập với lợi ích kinh doanh. Việc tái cơ cấu ngành điện Việt Nam hướng tới những nguyên tắc này, theo lộ trình và khuôn khổ pháp luật trong nước.
Các nền kinh tế: Mô hình và sở hữu lưới.
Các mốc tách truyền tải.
Nghị quyết 70 và quan điểm huy động nguồn lực cho truyền tải
Theo số liệu công bố trên website EVNNPT, tính đến tháng 12/2025, tổng công ty quản lý, vận hành 33.405 km đường dây truyền tải điện 500kV và 220kV. Theo Đề án tái cấu trúc EVN của Bộ Tài chính, nhu cầu đầu tư thuần của EVNNPT giai đoạn 2026-2030 dự kiến bình quân gần 45.000 tỷ đồng mỗi năm, nhưng khả năng tự thu xếp vốn chỉ đáp ứng tối đa khoảng 40% nhu cầu; hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cuối năm 2025 là 2,82 lần.
EVNNPT quản lý 33.405 km đường dây.
Nhu cầu vốn lưới mỗi năm 45.000 tỷ đồng/năm.
Từ những con số ấy, có ý kiến cho rằng thiếu vốn đầu tư tất yếu dẫn đến phải bán lưới điện. Tuy nhiên, khoảng thiếu hụt vốn chỉ cho thấy yêu cầu huy động thêm nguồn lực, chưa đủ cơ sở để kết luận phải chuyển nhượng tài sản hay thay đổi quyền sở hữu.
Trước hết, nhu cầu đầu tư khoảng 45.000 tỷ đồng mỗi năm xuất phát từ yêu cầu phát triển hệ thống truyền tải, tồn tại dù EVNNPT trực thuộc EVN hay được tổ chức theo mô hình khác. Giữ EVNNPT trong EVN không tự làm giảm nhu cầu đầu tư, cũng không mặc nhiên nâng khả năng tự thu xếp vốn từ mức 40%. Việc tách hay giữ có thể tác động đến cơ chế huy động vốn, năng lực tài chính và hiệu quả quản trị; bản thân thay đổi mô hình tổ chức không giải quyết được khoảng thiếu hụt nguồn lực.
Đồng thời, chủ trương của Đảng đã xác định hướng huy động thêm vốn cho hạ tầng truyền tải. Nghị quyết số 70-NQ/TW yêu cầu huy động nguồn vốn tư nhân thông qua mô hình hợp tác công tư (PPP), đồng thời đổi mới cơ chế giá truyền tải điện để thu hút đầu tư tư nhân phát triển lưới điện. Đây là định hướng mở rộng nguồn lực đầu tư, không thể đồng nhất với việc bán hệ thống lưới điện hiện có. Cơ chế tham gia, thu hồi vốn và trách nhiệm của nhà đầu tư cần được cụ thể hóa bằng pháp luật và hợp đồng dự án.
Mặt khác, Luật Điện lực quy định Nhà nước độc quyền đầu tư xây dựng và vận hành lưới điện truyền tải quan trọng từ cấp điện áp 220kV trở lên theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Vì vậy, huy động vốn tư nhân phải được thực hiện trong khuôn khổ bảo đảm vai trò của Nhà nước đối với hạ tầng truyền tải quan trọng. Hai yêu cầu này có thể được thực hiện đồng thời: Mở rộng nguồn lực để phát triển lưới điện và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Kinh nghiệm Indonesia soi rõ điểm này. Viện Kinh tế năng lượng và Phân tích tài chính (IEEFA) tính, theo quy hoạch 2025 tới 2034, nước này cần bình quân 2,4 tỷ USD mỗi năm cho truyền tải, nhưng từ năm 2019 mới chi bình quân 1,4 tỷ USD. Đề xuất của IEEFA (tháng 5/2026) là lập công ty truyền tải tách bạch về tài chính, vẫn trong khuôn sở hữu nhà nước. Báo cáo nói rõ đó không phải tư nhân hóa. Lý do kinh tế rất giản dị: Tài sản lưới rủi ro thấp mà nằm chung bảng cân đối với một tập đoàn rủi ro cao thì phải đi vay theo giá vốn của tập đoàn. Tách bạch để vay rẻ hơn, chứ không phải để bán rẻ đi.
Indonesia: Nhu cầu và thực chi đầu tư truyền tải.
Những con số cho thấy yêu cầu cấp thiết về vốn đầu tư cho hệ thống truyền tải. Vì vậy, câu hỏi cần làm rõ là lộ trình và cơ chế nào để huy động đủ nguồn lực, đồng thời bảo đảm hiệu quả đầu tư và vai trò kiểm soát của Nhà nước.
Làm rõ năm vấn đề đặt ra
Trong thảo luận về tái cơ cấu ngành điện, một số nhận định chưa phân biệt đầy đủ giữa mô hình tổ chức, quyền sở hữu và cơ chế vận hành. Làm rõ những khác biệt này sẽ giúp đánh giá các phương án trên cùng một cơ sở, tránh suy diễn từ việc thay đổi đầu mối quản lý sang thay đổi bản chất của hệ thống truyền tải.
Thứ nhất, tách truyền tải có đồng nghĩa với xóa độc quyền?
Cần phân biệt độc quyền nhà nước theo luật với việc một tập đoàn đồng thời tham gia nhiều khâu trong chuỗi cung ứng điện. Khoản 2 Điều 5 Luật Điện lực 2024 quy định Nhà nước độc quyền đầu tư xây dựng và vận hành lưới điện truyền tải quan trọng từ cấp điện áp 220kV trở lên theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Việc thay đổi mô hình tổ chức của EVNNPT không tự làm thay đổi quy định này.
Mục tiêu của tách bạch các khâu là tăng tính độc lập, minh bạch và hạn chế xung đột lợi ích giữa hoạt động truyền tải với các hoạt động có tính cạnh tranh. Vì vậy, diễn đạt chính xác phải là tách bạch hoạt động độc quyền tự nhiên, độc quyền nhà nước với hoạt động cạnh tranh. Không thể từ đó suy ra Nhà nước từ bỏ quyền kiểm soát đối với lưới điện truyền tải quan trọng.
Thứ hai, thông lệ quốc tế có bắt buộc tách sở hữu?
Hai nhận định “thị trường điện cạnh tranh phải tách truyền tải” và “nhiều nước vẫn giữ truyền tải trong tập đoàn điện lực” chỉ có thể được đánh giá đầy đủ khi làm rõ mức độ tách bạch. Tách chức năng, tách pháp lý và tách sở hữu là những phương án khác nhau, với yêu cầu quản trị và cơ chế giám sát khác nhau.
Một đơn vị truyền tải vẫn thuộc tập đoàn điện lực có thể được tổ chức độc lập về pháp lý và chịu các ràng buộc chặt chẽ về vận hành, tài chính, tiếp cận lưới. Ngược lại, chuyển đơn vị truyền tải sang một đầu mối sở hữu khác cũng chưa đủ để bảo đảm tính độc lập nếu cơ chế quản trị và điều tiết chưa phù hợp.
Do đó, kinh nghiệm quốc tế cần được xem xét trên cả mô hình sở hữu lẫn cách thức vận hành. Tiêu chí quan trọng là lưới điện phục vụ các chủ thể một cách công bằng, giá truyền tải minh bạch và hoạt động truyền tải không bị chi phối bởi lợi ích riêng của đơn vị phát điện hay kinh doanh điện.
Thứ ba, ý kiến khác nhau giữa hai Bộ cần được nhìn nhận thế nào?
Đề án tái cơ cấu ngành điện và Đề án tái cấu trúc EVN có phạm vi khác nhau nhưng liên quan trực tiếp đến nhau. Việc các cơ quan chủ trì trao đổi, góp ý và làm rõ tác động của từng phương án là yêu cầu cần thiết trong quá trình xây dựng chính sách.
Nếu còn khác biệt về lộ trình, mô hình tổ chức hoặc đầu mối quản lý, những vấn đề đó cần được đối chiếu với mục tiêu phát triển thị trường điện, bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Không nên từ những ý kiến khác nhau về phương án thực hiện suy ra sự đối lập về chủ trương. Điều cần công khai, giải thích là nội dung đang được xem xét, cơ sở lựa chọn và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan.
Thứ tư, tách truyền tải có làm giá điện tăng?
Chưa thể kết luận giá điện tăng hay giảm chỉ từ việc thay đổi mô hình tổ chức của đơn vị truyền tải. Tác động đến giá còn phụ thuộc vào chi phí đầu tư, vận hành, huy động vốn, hiệu quả quản trị và cơ chế điều tiết.
Tách bạch hoạt động truyền tải có thể tạo điều kiện hạch toán, công khai và giám sát rõ hơn chi phí của từng khâu. Tuy nhiên, mức độ minh bạch và hiệu quả kiểm soát chi phí phụ thuộc vào cách thiết kế, thực hiện cơ chế quản lý; không tự xuất hiện sau một quyết định tổ chức lại doanh nghiệp.
Cũng cần phân biệt bù chéo giữa các khâu trong ngành điện với bù chéo giữa các nhóm khách hàng sử dụng điện. Đây là hai vấn đề khác nhau, không thể dùng chủ trương xử lý vấn đề này để mặc nhiên kết luận vấn đề kia đã được giải quyết. Cơ quan quản lý cần giải thích rõ cách xác định giá truyền tải, nguyên tắc tính chi phí vào giá điện và cơ chế giám sát, qua đó giúp người dân đánh giá tác động trên cơ sở thông tin đầy đủ.
Thứ năm, có thể lấy Texas làm mẫu cho Việt Nam?
Kinh nghiệm của Texas có thể cung cấp thêm góc nhìn về tổ chức thị trường điện và sự tham gia của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, một mô hình chỉ có ý nghĩa tham khảo khi được đặt trong điều kiện pháp lý, cấu trúc thị trường và yêu cầu an ninh năng lượng cụ thể. Với Việt Nam, mọi phương án cải cách đều phải tuân thủ quy định về độc quyền nhà nước đối với lưới điện truyền tải quan trọng.
Nhận định cải cách không nên dừng ở thay đổi sơ đồ tổ chức là có cơ sở. Nhưng cũng không thể chỉ từ việc chuyển đầu mối quản lý mà kết luận cải cách mang tính hình thức. Việc đưa đơn vị điều độ ra khỏi EVN cần được đánh giá bằng mức độ độc lập trong quyết định vận hành, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng phục vụ công bằng các chủ thể trên thị trường.
Tương tự, hiệu quả tái cơ cấu truyền tải phải được đo bằng khả năng huy động vốn, chất lượng dịch vụ, hiệu quả đầu tư và mức độ bảo đảm tiếp cận lưới. Đó mới là cơ sở để lựa chọn mô hình phù hợp và đánh giá kết quả thực hiện.
Ranh giới đỏ mang tên an ninh lưới điện
Thực tế cho thấy việc thiếu cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ đối với hệ thống truyền tải có thể làm phát sinh rủi ro an ninh năng lượng. Tại Philippines, quyền vận hành lưới điện được trao cho NGCP, doanh nghiệp có 40% cổ phần thuộc Tập đoàn Lưới điện quốc gia Trung Quốc (SGCC). Năm 2019, một số thượng nghị sĩ nước này đã đề nghị rà soát hoạt động và đánh giá an ninh hệ thống truyền tải; Bộ Năng lượng Philippines cũng thúc đẩy việc kiểm toán an ninh lưới điện quốc gia. Những động thái này nhằm kiểm chứng các lo ngại về khả năng can thiệp từ bên ngoài, làm rõ mức độ kiểm soát của cơ quan chức năng và bảo đảm cung cấp điện an toàn, liên tục cho người dân. Đến năm 2025, yêu cầu tăng quyền kiểm soát của Nhà nước tiếp tục được đặt ra, trong đó có đề xuất tách chức năng vận hành hệ thống điện khỏi NGCP.
Tại Đức, Nhà nước tăng sự hiện diện trong các doanh nghiệp truyền tải thông qua góp vốn. Năm 2018, Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), thay mặt Chính phủ Đức mua 20% cổ phần Eurogrid, công ty gián tiếp sở hữu toàn bộ 50Hertz. Ngày 3/7/2026, KfW hoàn tất giao dịch mua 25,1% cổ phần TenneT Germany. Những trường hợp này cho thấy, ngay trong các thị trường điện phát triển, vai trò của Nhà nước đối với hạ tầng truyền tải vẫn được coi trọng.
EVN thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Điều đó cho thấy, kinh nghiệm quốc tế cần được xem xét trong điều kiện cụ thể của từng nước. Với Việt Nam, nguyên tắc bảo vệ hạ tầng truyền tải quan trọng đã được xác lập bằng pháp luật. Điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Điện lực quy định Nhà nước độc quyền đầu tư xây dựng và vận hành lưới điện truyền tải quan trọng từ cấp điện áp 220 kV trở lên theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Nghị quyết số 70-NQ/TW đồng thời định hướng huy động vốn tư nhân phát triển hạ tầng truyền tải theo mô hình PPP. Hai định hướng này đặt ra yêu cầu: Mở rộng nguồn lực đầu tư phải đi cùng bảo đảm vai trò của Nhà nước đối với hạ tầng chiến lược.
Làm rõ thông tin chưa chính xác là cần thiết, nhưng sức thuyết phục của chính sách còn phải được củng cố bằng cơ chế thực hiện và kết quả có thể kiểm chứng. Ba nhiệm vụ cần được ưu tiên.
Thứ nhất, xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tính trung lập của lưới điện. Cơ quan quản lý có thể công bố định kỳ số hồ sơ đề nghị đấu nối, tỷ lệ được giải quyết, thời gian xử lý và nguyên nhân chậm trễ; đồng thời công khai dữ liệu hạn chế công suất, giảm huy động theo khu vực, loại nguồn và nhóm chủ đầu tư. Việc đánh giá cần tính đến điều kiện kỹ thuật, khả năng giải tỏa công suất và yêu cầu an toàn hệ thống. Dữ liệu minh bạch sẽ tạo cơ sở kiểm chứng việc tiếp cận lưới có công bằng hay không, giúp phát hiện và xử lý những bất cập thực tế.
Thứ hai, cụ thể hóa phạm vi độc quyền nhà nước và điều kiện huy động vốn tư nhân. Cần làm rõ danh mục lưới điện truyền tải quan trọng theo thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời quy định cụ thể điều kiện tham gia PPP, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, cơ chế thu hồi vốn, yêu cầu an ninh và trách nhiệm giám sát. Khi phạm vi, thẩm quyền và trách nhiệm được xác định rõ, doanh nghiệp có cơ sở triển khai, còn người dân có căn cứ để giám sát.
Thứ ba, cung cấp thông tin chính thống kịp thời và đầy đủ. Những nội dung đã được phép công khai cần được giải thích rõ, nhất là mục tiêu tái cơ cấu, các phương án đang được xem xét, lộ trình thực hiện và tác động dự kiến. Đồng thời, cần phân biệt rành mạch giữa đề xuất, dự thảo và quyết định đã có hiệu lực. Quản lý tài liệu chưa công khai phải đi cùng chủ động cung cấp thông tin, qua đó hạn chế việc trích dẫn rời rạc và suy diễn về chính sách.
Philippines nhượng quyền vận hành lưới cho Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Philippines (NGCP), trong đó một tập đoàn lưới điện nước ngoài nắm 40%; năm 2019 Quốc hội nước này đã lên tiếng lo ngại về an ninh, đến năm 2025 vẫn phải đòi kiểm toán. Nước Đức thì chọn cách ngược lại: Năm 2018, KfW mua 20% cổ phần công ty truyền tải 50Hertz để chặn một nhà đầu tư nước ngoài. Đến tháng 7/2026 KfW nắm thêm 25,1% TenneT Germany.
Bài học không nằm ở việc bình phẩm chính sách nước khác. Bài học là: Lưới điện là hạ tầng chiến lược. Việt Nam đã khóa ranh đỏ ấy bằng luật và bằng nghị quyết. Khoản 2 Điều 5 Luật Điện lực giữ lưới quan trọng trong độc quyền nhà nước. Nghị quyết số 70-NQ/TW mở cửa PPP cho truyền tải nhưng đi kèm yêu cầu hạ tầng năng lượng chiến lược phải do Nhà nước kiểm soát.
Phản bác luận điệu sai mới là một nửa việc. Nửa còn lại là làm cho thông điệp đúng có sức nặng trong thực tế. Ba việc cụ thể có thể làm ngay.
Việc thứ nhất là đo được độ trung lập của lưới. Cơ quan quản lý có thể công bố định kỳ số hồ sơ đấu nối, thời gian xử lý trung bình, số lần giảm huy động theo từng loại chủ đầu tư. Khi con số được công khai, lời đồn "lưới ưu ái nhà máy nhà" hay "lưới sẽ thuộc về tư nhân" tự mất chỗ đứng.
Việc thứ hai là ban hành sớm danh mục lưới điện truyền tải quan trọng từ 220kV trở lên mà điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Điện lực giao Thủ tướng Chính phủ quyết định, cùng điều kiện đối với nhà đầu tư khi tham gia PPP lưới. Ranh đỏ được vẽ bằng văn bản thì không ai xoá được bằng một cái tít.
Việc thứ ba là cung cấp thông tin chính thống sớm và đủ. Khi tài liệu chưa công khai bị trích dẫn rời rạc, khoảng trống thông tin sẽ bị lấp bằng suy diễn. Quản lý chặt tài liệu nhạy cảm, đồng thời công bố kịp thời những gì đã được phép công bố, là hai mặt của cùng một việc giữ trận địa thông tin.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Điện lực số 61/2024/QH15, Công báo số 1531 và 1532 ngày 30/12/2024, Điều 5 khoản 2 và điểm a khoản 11.
2. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phần quan điểm 1 và 2, phần nhiệm vụ 3 và 5.
3. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, mục I.1 và III.1 (theo đăng tải của Báo Đại biểu Nhân dân).
4. Quyết định số 752/QĐ-TTg và 753/QĐ-TTg ngày 01/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia.
5. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 36.
6. A. Bonzanni, "The Economics of Energy Networks", chương 13 trong The Palgrave Handbook of International Energy Economics, Palgrave Macmillan, 2022, tr. 218 tới 222.
7. Vivien Foster, Anshul Rana, Rethinking Power Sector Reform in the Developing World, Ngân hàng Thế giới, 2019.
8. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Status of Power System Transformation 2019.
9. Chỉ thị 2019/944 của Liên minh châu Âu về quy tắc chung đối với thị trường điện nội khối, Chương VI.
10. IEEFA, Unlocking Indonesia's transmission grid investment (tháng 5/2026).
11. NESO (neso.energy) về việc quốc hữu hoá ngày 1/10/2024; RTE (rte-france.com) và EDF (edf.fr) về cơ cấu sở hữu RTE; Engineering News (Nam Phi) ngày 9/12 và 18/12/2025 về NTCSA; UPI ngày 13/8/2026 và Asia Business Daily ngày 23/8, 22/9/2026 về KEPCO.
12. Thanh Niên ngày 7/10 và 10/10/2026; Tuổi Trẻ ngày 13/10/2026; Báo Đầu tư ngày 10/10/2026 và 1thegioi.vn ngày 10/10/2026 dẫn Tờ trình của Bộ Tài chính; Doanh Nhân Trẻ ngày 10/10/2026; Năng lượng Việt Nam ngày 22/8/2026.
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global