VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 7, 21/02/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpNghĩ về một nền kinh tế 'tốc độ cao'

Nghĩ về một nền kinh tế 'tốc độ cao'

12:31:00 PM GMT+7Thứ 7, 21/02/2026

Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.

Những ngày cuối năm âm lịch, khi nhịp sống chậm lại đôi chút, có khoảng lặng để nhìn lại những chuyển động của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua, có thể thấy rằng Việt Nam dường như đang bước vào một giai đoạn mà “tốc độ” trở thành một trạng thái phổ biến. Tốc độ làm luật nhanh hơn, tốc độ khởi công các dự án đầu tư công nhanh hơn, tốc độ giải phóng mặt bằng, mở đường, làm cao tốc nhanh hơn. Cảm giác chuyển động nhanh hiện diện rõ ràng trong đời sống kinh tế.

“Tốc độ” hiện lên như một tín hiệu của sự quyết tâm và khát vọng bứt phá. Nhưng sẽ là thiếu sót nếu chỉ hiểu “tốc độ” một cách giản đơn là làm nhanh hơn, quyết liệt hơn, mạnh tay hơn.

Thông bất thống

Trong Đông y có câu “Thông bất thống – Bất thông tất thống”. Đại ý là nơi nào khí huyết lưu thông tốt, nơi đó khỏe mạnh; chỗ nào ứ trệ, bệnh tật phát sinh. Kinh tế cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Lịch sử phát triển của các đô thị, các trung tâm thương mại, các vùng đất thịnh vượng đều gắn với một điểm chung: khả năng lưu thông cao. Con đường đông xe cộ kéo theo cửa hàng, dịch vụ, nhà ở; nơi giao thương hình thành chợ búa, bến cảng, rồi đô thị. Những tuyến thương mại cổ như Con đường Tơ lụa từng làm bừng sáng các thành phố ốc đảo giữa sa mạc; những cảng biển như Venice, Amsterdam hay Singapore vươn lên nhờ nằm đúng “mạch máu” của dòng chảy hàng hóa toàn cầu.

Nhìn ở góc độ ấy, “tốc độ” chỉ là một phần của lưu thông. Phần quan trọng hơn là “tốc độ” phải gắn liền với sự thông suốt. Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.

Trên thực tế, thúc ép là cách tiếp cận quen thuộc trong quản trị: đặt chỉ tiêu cao, siết tiến độ, đẩy trách nhiệm xuống dưới. Trong ngắn hạn, thúc ép có thể tạo ra cảm giác chuyển động. Nhưng nó không chỉ làm dòng chảy công việc nhanh hơn mà còn làm tăng áp lực lên những điểm nghẽn chưa được tháo gỡ.

Thị trường, về bản chất, là một cơ chế tự điều tiết dựa trên tín hiệu. Giá cả, lãi suất, thanh khoản, mức độ rủi ro… là những “ngôn ngữ” giúp các chủ thể trong nền kinh tế điều chỉnh hành vi mà không cần mệnh lệnh trực tiếp. Khi cơ chế này vận hành thông suốt, thị trường có thể hấp thụ các cú sốc ở mức độ nhất định mà không cần can thiệp thường xuyên.

Về lý thuyết, khi áp lực quản lý được đặt lên trên cơ chế thị trường, các chủ thể dần mất động cơ và khả năng tự đánh giá rủi ro. Doanh nghiệp không còn quyết định dựa trên triển vọng dài hạn, mà dựa trên kỳ vọng về động thái chính sách tiếp theo. Nhà đầu tư không còn đọc tín hiệu thị trường, mà đọc “ý chí điều hành”. Thị trường, từ chỗ là nơi phân bổ nguồn lực, dần trở thành nơi phản xạ với mệnh lệnh.

Khi khả năng tự điều tiết suy yếu, mỗi biến động nhỏ đều có nguy cơ khuếch đại. Một cú nới lỏng, nếu không có lộ trình rõ ràng, dễ kích hoạt dòng tiền đầu cơ. Một tín hiệu siết chặt, nếu đến đột ngột, có thể làm thanh khoản co rút nhanh hơn dự kiến. Trước những phản ứng ấy, cơ quan quản lý buộc phải can thiệp thường xuyên hơn để tránh rủi ro có thể lan rộng.

Lúc này, vòng luẩn quẩn hình thành. Can thiệp nhiều làm tín hiệu thị trường yếu đi. Tín hiệu yếu buộc phải can thiệp nhiều hơn. Mỗi vòng lặp khiến thị trường kém tự chủ hơn, còn vai trò điều tiết của Nhà nước ngày càng nặng nề và tốn kém hơn. Trong trường hợp như vậy, thay vì là “người cầm lái”, cơ quan quản lý dần bị kéo vào vai trò “người giữ thăng bằng” cho một hệ thống mất khả năng tự ổn định. Đó là rủi ro lớn nhất của một nền kinh tế muốn đi nhanh nhưng không đi kèm với khai thông cơ chế vận hành.

Kỳ vọng vào cách tiếp cận mới

Nhìn vào Việt Nam hôm nay, điều đáng mừng không chỉ là những con số về tiến độ hay thời gian, mà là sự thay đổi trong tâm thế điều hành. Nhiều văn bản luật mang tính chất đột phá đã và đang được Đảng, Quốc hội, Chính phủ ban hành như “Bộ tứ trụ cột”, các văn bản pháp luật thúc đẩy các cơ chế mới, thị trường mới như tài sản số, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do… Các dự án đầu tư công được khởi động quyết liệt, giải phóng mặt bằng được thúc đẩy mạnh mẽ. Tất cả đều hướng đến việc khai thông các điểm nghẽn, tăng tốc độ lưu thông trong nền kinh tế. Chỉ khi làm như vậy, mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030 mới khả thi.

Nhưng đường đi phía trước còn dài, vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần phải khai thông. Trong đó, thể chế vẫn là “điểm nghẽn của các điểm nghẽn”. Mặc dù các nghị quyết, luật mang tính đột phá đã được ban hành nhưng các văn bản hướng dẫn dường như không theo kịp. Để những đột phá chiến lược ấy đi vào cuộc sống, rất cần thống nhất cách hiểu, làm rõ thẩm quyền và thiết kế cơ chế bảo vệ người thực thi khi làm đúng quy trình. Chỉ khi tâm lý sợ sai dần được cởi bỏ, người thực thi pháp luật mới có thể “tăng tốc”, từ đó đẩy nhanh các hoạt động kinh tế.

Điểm nghẽn thứ hai là khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế. Mặc dù nguồn lực trong nền kinh tế Việt Nam không thiếu nhưng khả năng luân chuyển vốn vào hoạt động sản xuất - kinh doanh lại thiếu hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước đang nỗ lực gia tăng ngân sách đi kèm với đẩy mạnh chi tiêu công, tăng cường vốn tín dụng và tìm cách khơi thông các nguồn vốn đang “nằm yên” trong các kênh trú ẩn an toàn. Tuy nhiên, điểm quan trọng ở đây là phải thiết lập được môi trường kinh doanh minh bạch và đáng tin cậy, khi ấy dòng vốn sẽ chủ động chọn luân chuyển vào những khu vực tạo ra giá trị dài hạn, thay vì đầu cơ ngắn hạn hoặc tìm chỗ trú ẩn.

Điểm nghẽn thứ ba là bài toán hạ tầng. Nhà nước đang quyết liệt giải bài toán này bằng các dự án đầu tư hạ tầng với sự vào cuộc của cả vốn đầu tư công và tư nhân, ưu tiên những kết nối tạo hiệu ứng lan tỏa. Không gian kinh tế được mở rộng, tốc độ lưu thông cũng tăng lên khiến các hoạt động kinh tế sôi động hơn. Nhưng chỉ hạ tầng vật lý thôi là chưa đủ, việc chủ động xây dựng hạ tầng số và tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia xây dựng và khai thác hạ tầng số cũng rất quan trọng trong kỷ nguyên số hoá hiện nay. Khi hạ tầng số được phát triển theo hướng mở, có khả năng kết nối và chia sẻ, chi phí giao dịch giảm xuống, các mô hình kinh doanh mới hình thành nhanh hơn, nhờ đó các hoạt động kinh tế được mở rộng theo chiều sâu, chứ không chỉ theo chiều rộng.

Sau cùng, một nền kinh tế muốn vận hành ở tốc độ cao thì “luật chơi” phải ổn định, chính sách phải có khả năng dự đoán. Nếu chính sách thiếu ổn định và khó dự đoán, các chủ thể kinh tế buộc phải phòng thủ và tốc độ lưu thông của nền kinh tế khó có thể đẩy lên cao.

TheoTùng Lâm (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global