Nghị quyết
09-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời đúng vào thời điểm cả nước đang phải khắc phục
những khó khăn, tác động của khủng hoảng tài chính thế giới với Việt Nam. Chúng
ta cũng đang nỗ lực xây dựng các đề án phát triển đột phá trong việc thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm trong đó đặt mục tiêu tái cơ cấu
doanh nghiệp Nhà nước, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu về đầu tư.
Đây đều là những lĩnh vực có tác động rất lớn đến sự phát triển của các doanh
nghiệp, doanh nhân và kinh tế xã hội.
Trong năm
qua, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nghị quyết của đại hội Đảng đã đạt được những
kết quả rất đáng phấn khởi. Tính đến năm 2010 tỷ lệ nông nghiệp đạt 20%, trong
khi tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ tăng 80%, điều này thể hiện sự phát triển vượt
bậc của nguồn vốn doanh nghiệp, doanh nhân. Đến hết năm 2010, Việt Nam đã có
600.000 doanh nghiệp, tăng hơn 100.000 doanh nghiệp so với mục tiêu đề ra. Đưa
Việt Nam
từ một quốc gia nhỏ bé về thương mại trở thành một quốc gia mạnh về thương mại
với 80% GDP là từ giá trị xuất khẩu.
Chúng ta
đã có những doanh nghiệp tư nhân, dân doanh rất nhỏ nhưng dám bước ra những thị
trường xa xôi như châu Phi, châu Mỹ La Tinh hay những vùng lạnh giá của Đông Âu
để kinh doanh. Có thể nói những thành tích đạt được của khối doanh nghiệp,
doanh nhân là rất đáng tự hào.
Các doanh
nghiệp, doanh nhân Việt Nam
khi vươn ra thị trường thế giới phải thể hiện được bản lĩnh. Hiện nay các doanh
nghiệp của chúng ta đang yếu hơn các doanh nghiệp nước ngoài nhưng chúng ta
phải phấn đấu để làm sao không còn sự khác biệt đối với những doanh nghiệp nước
ngoài. Điều khác biệt duy nhất của doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài là các doanh
nghiệp Việt Nam
tham gia vào các hoạt động an sinh xã hội rất mạnh mẽ và tự giác. Phải chăng sự
khác biệt ấy là thể hiện sự yêu nước, sự trung thành với dân tộc.
Khó
khăn thách thức
Tuy nhiên,
đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam vẫn tồn tại nhiều khó khăn
thách thức. Thứ nhất là hiệu quả và năng lực cạnh tranh thấp, năng suất lao
động tăng chậm, trách nhiệm này không chỉ của mình doanh nghiệp mà là của Chính
phủ, của cả xã hội; thứ hai là tốc độ đổi mới công nghệ của chúng ta còn rất
thấp, 10 năm qua tốc độ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam là
13%/năm, trong khi đó, các nước trong cùng điều kiện phát triển như Việt Nam
thì họ đạt tới 25%/năm, đây sẽ là một áp lực rất lớn khi chúng ta bước ra thị
trường thế giới.
Tôi cũng
rất mừng vì trong nghị quyết 09- NQ/TW, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã đề cập đến
việc xây dựng nếp văn hoá của doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam và tinh thần doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên,
hiện nay đại đa số doanh nghiệp Việt Nam vẫn rất yếu về phương pháp quản lý,
hiện nay, số lượng các doanh nghiệp áp dụng những phương pháp quản lý, quản trị
doanh nghiệp hiện đại nhất của thế giới chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bên cạnh đó,
công tác đào tạo lao động của doanh nghiệp Việt Nam nói chung là còn yếu, thực
tế ở nhiều nước phát triển trên thế giới đội ngũ doanh nhân là một thị trường
nhưng ở Việt Nam điều này vẫn chưa thực hiện được và điều này Chính phủ cũng
phải lưu ý để trong thời gian tới, trong kế hoạch hành động phải đưa vào để phát
triển thị trường này.
Về năng
lực cạnh tranh toàn cầu, hiện chúng ta đang xếp thứ 59/139 nước, năng lực cạnh tranh
công nghiệp là 58/118 nước, năng lực cạnh tranh về công nghệ là 92/117 nước
trong đó chỉ có 20% doanh nghiệp Việt Nam là sử dụng công nghệ cao, còn lại thì
có tới 58% là sử dụng công nghệ thấp. Trong số những mặt hàng xuất khẩu của
Việt Nam
thì chỉ có 8,2% số hàng hoá được sử dụng công nghệ cao để sản xuất xuất khẩu.
Về thủ tục hành chính chúng ta đang xếp thứ 120/139 nước, thời gian thành lập
doanh nghiệp là 118/139 nước.
Phương
hướng và giải pháp
Về phương
hướng và giải pháp trong thời gian tới, Chính phủ cũng đã định hướng là sẽ tiếp
tục thực hiện Nghị quyết 03 về sắp xếp và phát triển các doanh nghiệp nhà nước,
hiện chúng ta đã giảm các doanh nghiệp Nhà nước xuống còn 1.309 doanh nghiệp và
con số này sẽ tiếp tục giảm khi chúng ta tiến hành các biện pháp cải cách. Và
trong số 700.000 tỷ mà các doanh nghiệp Nhà nước đang nắm giữ cũng sẽ được cắt
giảm đồng thời thực hiện các biện pháp để mở rộng thị trường, tạo thêm cơ hội
cho các doanh nghiệp, doanh nhân ngoài quốc doanh.
Trong thời
gian tới Chính phủ cũng sẽ thực hiện 3 đột phá: Thứ nhất là về hệ thống kết cấu
hạ tầng; thứ hai là cải cách hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bởi hệ thống
văn bản của chúng ta hiện nay vẫn còn rất chồng chéo; thứ ba là hệ thống
giao thống vận tải. Song song với đó là chúng ta tiếp tục thực hiện các đề án
tái cơ cấu ngân hàng, mà thực chất đó là phát triển thị trường tài chính và
ngân hàng đây được xem là công cụ vô cùng quan trọng nếu không muốn nói là số
một đối với các doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có sức cạnh tranh thì trước hết
nguồn vốn phải cạnh tranh. Đấy là hướng phát triển mà trong đề án tái cơ cấu
tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng, phát triển thị trường vốn, phát triển
thị trường vốn thương mại dài hạn.
Cũng trong
thời gian tới, Chính phủ sẽ cùng với các bộ ngành và doanh nghiệp xây dựng một
chương trình hành động để thực hiện nghị quyết 09. Về môi trường có các doanh
nghiệp, Chính phủ cũng đang tập trung chỉ đạo các đề án về đàm phán hội nhập
song phương và đa phương để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị
trường.
Về vấn đề
cải cách thủ tục hành chính đang được rất nhiều các doanh nghiệp và doanh nhân quan
tâm thì Chính phủ cũng đã chỉ đạo các bộ thực hiện các biện pháp cải cách ví dụ
như thành lập doanh nghiệp thì Bộ Kế hoạch Đầu tư được giao nhiệm vụ năm nay
phải đưa hệ thống đăng ký doanh nghiệp qua mạng, bỏ qua các thủ tục một cửa,
hai cửa….
Về phía
Chính phủ chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo, chuẩn bị các đề án để trình
Bộ Chính trị cũng như các chương trình hành động để thực hiện nghị quyết 09 về
vấn đề phát triển doanh nhân trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước.
Lương
Tuấn (ghi)