Nhập khẩu than trước thời hạn
Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, từ năm 2012 nước ta sẽ phải nhập khẩu than và lượng nhập khẩu sẽ tăng dần, năm 2015 là 34 triệu tấn, năm 2020: 114 triệu tấn và đến năm 2025 sẽ là 228 triệu tấn. Nhưng điều đáng nói là dự báo này đã tới sớm hơn dự kiến. Trả lời về vấn đề này, ông Bùi Xuân Khu - Thứ trưởng Bộ Công thương cho rằng: "Việc nhập khẩu trước thời hạn là bình thường. Trong quy hoạch ngành điện có nhiều nhà máy nhiệt điện dùng than, mà nhu cầu sử dụng điện ngày càng cao, nên phải đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy nhiệt điện than này". Như vậy, bản Quy hoạch ngành Than giai đoạn 2006-2015 có xét triển vọng đến 2025 của chúng ta đã không còn đúng với thực tế chỉ sau chưa đầy 2 năm ra đời.
Trong bản hợp đồng nhập khẩu than đầu tiên, TKV đã ký hợp đồng mua than của Indonesia cho dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (tỉnh Bình Thuận) với sản lượng 3,5 triệu tấn. Ngoài đàm phán tại Indonesia, TKV cũng đã cử các đoàn đi khảo sát ở Australia để xúc tiến nhập khẩu than cho các dự án nhiệt điện. Ông Đinh Quang Trung - Trưởng Ban Xuất nhập khẩu Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam cho biết: "Than dự định dùng cho Nhiệt điện Vĩnh Tân 1. Nếu Vĩnh Tân 1 lấy nguồn than trong nước thì sẽ chuyển cho Nhiệt điện Nghi Sơn 2, nhưng Nghi Sơn 2 bản thân họ cũng đang muốn lấy than trong nước. Hiện tại chưa có kế hoạch cụ thể nào…".
Nếu không có gì thay đổi, vào cuối năm 2009, những tấn than nhập khẩu đầu tiên sẽ cập cảng Việt Nam.
Nguyên nhân từ đâu?
Việc Việt Nam - nước có những mỏ than lộ thiên với trữ lượng lớn bắt đầu phải nhập khẩu than. Vậy đâu là nguyên nhân, khi mà mỗi năm TKV khai thác được hơn 50 triệu tấn than, trong đó khoảng 15 - 20 triệu tấn cung cấp cho các khách hàng trong nước, còn lại là xuất khẩu. Đó là chưa tính đến lượng than bị xuất khẩu lậu mỗi năm lên đến cả hàng triệu tấn, thậm chí là cả chục triệu tấn như báo chí gần đây đã nêu và thanh tra đã vào cuộc. Chính tình trạng đó đã đẩy chúng ta buộc phải nhập khẩu than trước thời hạn. Nguồn cung cấp than chính của Việt Nam là các mỏ ở tỉnh Quảng Ninh. Theo TKV, vùng mỏ này có tổng trữ lượng 10,5 tỉ tấn, đủ để cung cấp cho nền kinh tế mỗi năm 50 triệu tấn trong 70 năm nữa. Nhưng với cách khai thác cùng kiệt bất chấp quy hoạch cộng với việc xuất khẩu ồ ạt thì việc sớm nhập khẩu nguồn nhiên liệu này cũng là lẽ đương nhiên. Năm 2007, Việt Nam xuất khẩu hơn 32,5 triệu tấn than, thu được 1,018 tỉ USD. Người ta cũng đã tính được rằng, với số tiền này nếu phải nhập khẩu than để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện, thì tại thời điểm hiện nay, số tiền trên chỉ đủ để mua lại 7,5 triệu tấn! Xuất khẩu than càng nhiều, càng thiệt hại. Không nghi ngờ gì, an ninh năng lượng quốc gia đang bị đe dọa từng ngày.
Ai cũng biết rằng, than là nguồn tài nguyên không tái sinh. Ở nhiều nước phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nhật… không hề hiếm các vùng mỏ nhưng chẳng quốc gia nào lại khai thác kiểu "sạch bách" và xuất khẩu than "hộc tốc" như ta. Ngược lại, họ sản xuất cực kỳ hạn chế, thậm chí đóng cửa mỏ nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên này. Cùng với đó là việc nghiên cứu những nhiên liệu tổng hợp để thay thế than đã được xúc tiến từ nhiều năm nay. Chẳng đâu xa, ngay nước láng giềng Trung Quốc, nơi có số mỏ than có lẽ đứng đầu thế giới với tổng sản lượng 1,2 tỷ tấn/năm nhưng bên cạnh việc khai thác, nước này vẫn nhập khẩu than từ Việt Nam! Chính "sự kiện tháng 4" vừa qua khi cùng lúc trên 100 tầu than xuất lậu bị bắt giữ tại cảng Vạn Gia (Quảng Ninh), người ta mới thấy hết sự bi hài của chương trình nhập khẩu than của TKV.
Đây chính là bài toán về quản lý tài nguyên mà chúng ta cần phải giải quyết!
Thu Hường tổng hợp