|
Đầu tháng 5/2008, đại biểu duy nhất của giới xuất khẩu gạo Việt Nam tham dự phiên đấu thầu tại Philippines đã "trưng" ra đơn giá để "mong rớt thầu". Ý tứ này, ngoài lý do "đảm bảo an ninh lương thực trong nước" và thực thi biện pháp "hạn chế xuất khẩu để khống chế lạm phát" của Chính phủ; nó còn chứa một tâm sự nhiều chiều về cơ chế quản lý hiện tại.
Không lo thiếu lúa gạo
Đó là niềm tin chắc chắn của các công dân vựa lúa ĐBSCL, vựa lớn nhất Việt Nam, ngay tại thời điểm cả thế giới đang đối mặt với khủng hoảng lương thực. Ai cũng quan tâm đến nông dân - người làm ra hạt lúa, hạt gạo - nhưng cách quan tâm lại tựa như "đồng sàng, dị mộng". Và vì vậy, lâu nay người nông dân - "ông chủ thực sự của hạt gạo" - lại rơi xuống vị thế của "kẻ ăn theo". Nhưng, làm cách nào để cải thiện đời sống nông dân, lại là một câu hỏi nhiều người tìm tòi mà chưa có lời giải thỏa đáng... Tuy nhiên, nếu trả lại cho người nông dân vị trí đúng của họ, bà con ta sẽ có cách mở thêm diện tích (kể cả quay lại sau thời gian trồng loại cây khác), gia tăng sản lượng và quay vòng đất không mệt mỏi. Cứ thế, sản lượng chung của cả nước không ngừng tăng trưởng, sẽ vượt xa nhiều so với 37 triệu tấn hiện nay. Đó chính là sự "bảo đảm bằng vàng" cho phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế khác. Khủng hoảng lương thực đang đe dọa hàng tỷ người dân Châu Á và trở thành mối lo lớn, kể cả các cường quốc xuất khẩu gạo. Không ít lần Liên hợp quốc phải lên tiếng kêu gọi và đặt lên bàn nghị sự về gia tăng sản lượng lương thực và giải pháp chống đói nghèo sao cho hiệu quả. Khi hạt gạo là mối quan tâm chính trong các chương trình nghị sự hiện nay, sao không tạo thuận lợi cho gạo phát triển?
Cơ hội cho gạo Việt Nam
Ở một động thái khác, một chủ doanh nghiệp xuất khẩu gạo nói với DĐdoanh nghiệp, rằng: Mấy năm gần đây, tuy sản lượng lúa cả nước tăng chậm nhưng vẫn đảm bảo 37 triệu tấn lương thực/năm (và gạo đủ để xuất khẩu trên 4 triệu tấn/năm) chia cho 85 triệu dân là một thực tế cho thấy vấn đề an ninh lương thực (ANLT) Việt Nam là không có gì đáng lo! Về xuất khẩu gạo, ông này cho rằng: Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 1,2 triệu tấn gạo nhưng mới chỉ đạt hơn nửa tỷ USD (giá bình quân 483 USD/tấn). Tuy nhiên, vẫn với cái đà tăng như hiện nay, chúng ta phải tỉnh táo mà nhận ra rằng "cơ hội cho hạt gạo Việt Nam đã đến". Diễn biến tiếp theo "cầm chắc" điều khẳng định giá trị, vị thế của tương lai hạt gạo Việt Nam sẽ là 4 tỷ USD, chứ không "lẹt đẹt" trên dưới 1 tỷ như nhiều năm qua. Cụ thể, doanh nhân này tính toán: Lấy lượng gạo xuất khẩu cả năm 2008 được Chính phủ cam kết là 4 triệu tấn, trừ phần đã xuất (1,2 triệu tấn), chúng ta còn 2,8 triệu tấn (tính tròn) nhân với "giá sàn biến động" là 1.200 USD/tấn (giá trúng thầu của tháng 3/2008) thì bài toán xuất khẩu gạo đã quá rõ là "nên" hay "không nên". Tính toán này hoàn toàn loại bỏ yếu tố cơ hội, đầu cơ của một nhóm nhỏ đối tượng luôn tìm kiếm sơ hở của cơ chế, chính sách để chờ lúc "nước đục, thả câu".
Cần tính toán khôn khéo
Không viển vông, ngoài "bước tiến" kể trên, vị doanh nhân này cũng tính đến "bước lui" của hạt gạo Việt Nam trước nhiệm vụ ANLT. Theo ông, với 36 - 37 triệu nông dân, việc tạm trữ, dự phòng trong ý thức cha truyền con nối đã thuộc lòng câu "tích cốc, phòng cơ". Chả ai dại gì khi bán "trắng bồ" lúa trong nhà - điều đó là thực tế. Hơn nữa, nước ta có thể sản xuất lương thực (trồng lúa) quanh năm, 90 ngày/vụ. Mối quan tâm chính là cần tạm trữ, dự phòng 200 - 300 ngàn tấn gạo/tháng cho số dân phi nông nghiệp (27 - 28 triệu người) với thời gian tối đa 90 ngày (1 vụ lúa), thì Việt Nam vẫn ung dung đứng đầu trong top các quốc gia có sự ổn định tốt nhất về đời sống. Vì vậy, xuất khẩu gạo có giá cao, phân phối lợi nhuận tương xứng cho từng khâu sản xuất trong chuỗi trồng - chế biến - xuất khẩu, rõ ràng đồng ruộng Việt Nam đang có lợi thế hiện thực hóa các tính toán này. Dĩ nhiên, kết quả này cần có sự chuyển động cân xứng, tương thích của các lĩnh vực, các mảng phát triển hữu cơ khác, như hệ thống chính sách phục vụ, cơ chế quản lý điều hành thật sự khéo léo, khôn ngoan.
Và sau rốt, không riêng vị doanh nhân này, mọi doanh nhân khác đều thấy rằng, đã đến lúc cần "nhìn" lại quan điểm ANLT của thời kỳ phát triển. Nó không còn dung chứa khái niệm của lối tư duy từ thế kỷ trước, nhất là không còn chung chung, trừu tượng khi mà Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng với các thể chế kinh tế rộng rãi của thế giới. Đừng quá nặng nề với quan điểm ANLT đã lỗi thời mà bỏ lỡ cơ hội cho hạt gạo Việt Nam; đồng thời, đây cũng là giải pháp thiết thực giúp nông dân Việt Nam thoát khỏi đói nghèo.
Huy Bình
|