|
Đây là một trong những nội dung quan trọng được đề cập trong "Báo cáo thường niên: DN Việt Nam 2007" - cuốn sách do VCCI chuẩn bị phát hành với chủ đề trọng tâm là: Lao động và phát triển nguồn nhân lực. Dự kiến VCCI sẽ chính thức công bố cuốn sách này vào trung tuần tháng 5 tới. Để các DN hiểu rõ hơn về nội dung cuốn sách, DĐDN đã có cuộc trao đổi với TS Phạm Thị Thu Hằng - Viện trưởng Viện phát triển DN trực thuộc VCCI - chủ biên cuốn sách.
Bà Hằng cho biết, năm 2007 lần đầu tiên VCCI cho ra mắt “Báo cáo thường niên: DN Việt Nam 2006" với chủ đề: "Hội nhập WTO" và đã gây tiếng vang lớn trong cộng đồng DN. Năm nay, sở dĩ VCCI lấy chủ đề cuốn sách là: Lao động và phát triển nguồn nhân lực bởi lẽ Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ và lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều. chính việc phát triển nguồn nhân lực sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hấp thụ vốn FDI.
- Thưa bà, có thể nói hiện vấn đề nguồn nhân lực đang là vấn đề "đau đầu" đối với các DN. Vì sao báo cáo năm nay lại chỉ chọn 6 ngành mà không phải là những ngành khác?
Trên thực tế, khác với năm ngoái, năm nay chúng tôi đánh giá khá toàn diện và theo hệ thống. Năm 2006 là năm đầu tiên chúng tôi thực hiện cuốn sách nên về mặt tính toán vẫn còn những hạn chế, riêng báo cáo năm nay chúng tôi đã hệ thống hoá được xu hướng phát triển của toàn bộ các DN Việt Nam trong suốt thời kỳ từ năm 2000 cho tới nay. Đặc biệt chúng tôi chú trọng 6 ngành mũi nhọn hàng đầu trong nền kinh tế là: chế biến thực phẩm, dệt may, bảo hiểm, du lịch, xây dựng, ngân hàng. Sở dĩ chúng tôi chọn 6 ngành này là vì đây là những ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất tác động của các vấn đề lao động và nguồn nhân lực. Do khuôn khổ của một báo cáo mà chúng tôi không thể đánh giá được tất cả các ngành và căn cứ vào chủ đề năm mà chúng tôi tiếp cận tầm quan trọng của vấn đề đó đối với từng ngành một. Chúng tôi cũng đưa ra 5 tiêu chí để chọn 6 ngành này, đó là: tổng số lao động phân theo ngành kinh tế, tăng trưởng lao động năm sau và năm trước; tốc độ tăng trưởng lao động phân theo ngành kinh tế; năng suất lao động; giá trị gia tăng tạo ra trên một lao động phân theo ngành kinh tế.
- Sau một năm Việt Nam gia nhập WTO, bà đánh giá thế nào về nguồn nhân lực của các DN Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV?
Nhìn chung trong các DNNVV, vấn đề lao động đang ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh doanh. Các DNNVV chịu tác động rất lớn của nguồn nhân lực vì khả năng thu hút nguồn nhân lực có tay nghề và trình độ cao của họ rất hạn chế, điều này thể hiện rất rõ ở các ngành. Ví dụ ngành bảo hiểm, nguồn nhân lực trong toàn ngành tăng, nhưng nguồn nhân lực trong các DNNVV lại giảm. Trong quá trình phân tích chúng tôi phân loại rất rõ các vấn đề phát triển của DN tại DN lớn cũng như DN nhỏ, trong đó có vấn đề lao động và phát triển nguồn nhân lực. Đấy cũng là một khía cạnh để chúng ta thấy tác động của hội nhập trong vấn đề nguồn nhân lực trong các DN Việt Nam.
Thông qua các cuộc thăm dò, khảo sát và ý kiến từ các chuyên gia trong 6 ngành trên chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề lao động và nguồn nhân lực hiện đang là vấn đề hết sức nóng bỏng đối với các DN. Chẳng hạn như ngành dệt may là ngành chịu sức ép rất lớn vì giá trị gia tăng trong một sản phẩm thấp, thiếu nhiều chuyên gia quản trị; trong ngành xây dựng thiếu các chuyên gia tư vấn thiết kế; ngành ngân hàng, bảo hiểm việc giằng co giữa các nhân lực cao cấp rất cao trong khi lại phải mở rộng mạng lưới các chi nhánh, hay như ngành du lịch cũng vậy, khách du lịch tăng nhưng tỷ lệ lao động (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) được đào tạo chuyên môn lại thấp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ - một ngành có thể mang lại nguồn ngoại tệ lớn.
- Bà có nhận xét gì về nhu cầu lao động giữa khu vực FDI và khu vực DN trong nước?
Hiện tại DN FDI gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút lao động làm việc cho mình bởi vấn đề di cư lao động đang diễn ra khá phức tạp. Khả năng đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ cho các DN FDI là khá khó khăn đối với các vùng kinh tế mà tại đó số DN FDI và dòng vốn FDI đổ vào khá lớn. Trong khi đó đã có những tín hiệu báo động về sự dịch chuyển ngược của lao động làm việc trong các DN FDI ở khu vực Đông Nam Bộ và nhất là lao động có trình độ cao ra khỏi các DN FDI cùng với luồng bổ sung lao động rất hạn chế cho khu vực này.
Câu hỏi đặt ra là liêu năng lực hấp thụ vốn FDI của Việt Nam có thể đáp ứng được tốc độ tăng của vốn FDI cam kết. Các kết quả cho thấy một tín hiệu đáng lo ngại về khả năng hấp thụ vốn FDI của Việt Nam nói chung và của các vùng kinh tế trọng điểm thu hút FDI nói riêng. Bởi vì khi không có lợi thế về vốn thì việc đánh mất lợi thế về con người, tức là nguồn nhân lực sẽ làm giảm sự thu hút của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
- Như vậy, chắc hẳn ngoài việc cảnh báo, cuốn sách sẽ đưa ra những khuyến nghị và giải pháp cho từng ngành đuợc đề cập?
Đúng vậy! Thông qua cuốn sách chúng tôi cũng đưa ra một số khuyến nghị về vấn đề nguồn nhân lực cho các DN. tuy nhiên, đây cũng chỉ là những khuyến nghị mang tính gợi ý vì việc phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi tính chủ động và sáng tạo của nhiều đơn vị. Ví dụ với ngành Ngân hàng chúng tôi khuyến cáo các ngân hàng phải tiến hành song song hai việc: hiện đại hoá ngân hàng đi cùng với chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng vận hành những quy trình công nghệ và máy móc kỹ thuật , dịch vụ hiện đại...
Với ngành bảo hiểm, chúng tôi khuyến nghị, ngành này cần xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ cao, thuê chuyên gia trong và ngoài nước, chú trọng xây dựng nguồn nhân lực dài hạn, mở rộng các cơ sở đào tạo về bảo hiểm...
Tóm lại, có thể coi đây là một cuốn "sách trắng" về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam và chúng ta phải nhìn thẳng vào vấn đề để cùng phát triển.
- Xin cảm ơn bà!
Quốc Anh thực hiện
|