Hỏi : Địa vị pháp lý của cơ quan đăng ký kinh doanh là gì?
Trả lời : Cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan hành chính công có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Giải quyết việc đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;
b) Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của Luật này; đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo của doanh nghiệp;
d) Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh;
đ) Xử lý vi phạm các quy định về đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật này;
e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những vi phạm trong việc đăng ký kinh doanh;
g) Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
|
Tình huống: Công ty trách nhiệm hữu hạn X có hai thành viên là A và B.
Tháng 8/2007, A vay tiền của T và N. Đồng thời với thỏa thuận vay tiền,
các bên ký hợp đồng chuyển nhượng phần vốn cho T và N để làm đảm bảo cho
khoản vay và không nộp cho Phòng Đăng ký kinh doanh.
Tháng
01/2008, công ty trách nhiệm hữu hạn X mất giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh và làm thủ tục để được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Ngày 31/01/2008, công ty đã được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Tuy nhiên, đến ngày 17/3/2008, A nhận được thông tin là giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 31/01/2008 đã được thay thế bằng giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008 trong đó A và B không còn
có tên trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nữa mà thay vào đó là
tên của T và N.
A cho rằng việc thay đổi đăng ký kinh doanh ngày
01/02/2008 là giả mạo vì A và B không ký bất cứ văn bản nào chuyển
nhượng phần vốn của mình. Vì vậy, A đã là đơn gửi Phòng đăng ký kinh
doanh khiếu nại về việc thay đổi đăng ký kinh doanh giả mạo nhưng Phòng
đăng ký kinh doanh không hợp tác. A lại tiếp tục đề nghị Phòng đăng ký
kinh doanh cung cấp hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008
nhưng Phòng đăng ký kinh doanh từ chối cung cấp với lý do A không phải
là thành viên của công ty nữa đồng thời chỉ cấp cho A bản sao giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008.
Sau thời gian dài yêu
cầu Phòng đăng ký kinh doanh cung cấp hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh
ngày 01/02/2008, A cũng chỉ được cung cấp bản sao giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh ngày 01/02/2008, còn hồ sơ thay đổi Phòng đăng ký kinh
doanh từ chối cung cấp cho A với lý do A không còn là thành viên công
ty. Vì vậy, ngày 11/12/2009, A đã làm đơn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề
nghị hướng dẫn thủ tục để có được hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh ngày
01/02/2008 từ Phòng đăng ký kinh doanh.
Ngày 26/01/2010, Cục
phát triển doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trả lời đơn của A trong
đó nêu rõ theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2005 thì
tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp
thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh và theo quy định tại Khoản 3
Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cơ quan đăng ký kinh doanh có nghĩa
vụ cung cấp theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
Như vậy, trong
tình huống trên, Phòng đăng ký kinh doanh đã không làm đúng trách nhiệm
của mình. Hiểu đúng Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2005 thì bất kỳ cá nhân,
tổ chức nào cũng có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp hồ
sơ. Việc viện dẫn lý do A không phải là thành viên để từ chối cung cấp
hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh trong tình huống trên là không đúng
quy định.
|
Bởi Cao Bá Khoát, Bùi Ngọc Tủng.