Skip to content
 
    Trang chủ     Giới thiệu VCCI       Hội viên Tin VCCI Liên hệ
English
Thông tin kinh tế
Danh bạ doanh nghiệp
Cơ hội giao thương
Nhận định - bình luận
Phổ biến kiến thức
Môi trường kinh doanh
Nhận định bình luận
Môi trường kinh doanh
Thị trường quốc tế
 
* Những phân tích và quan điểm trình bày ở đây chỉ nhằm mục đích cung cấp thêm thông tin tham khảo và không phải là quan điểm chính thức của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
 

Bombay đang phát triển thành một Thượng Hải thứ hai

Salil Tripathi

Nổi lên từ Bán đảo Ấn Độ, Mumbai trông như một cây cọ vươn tán về phía Tây, bao xung quanh là biển Ả Rập. Song giờ đây thành phố này lại muốn vươn sang cả phía Đông. Trong sự gấp gáp của xu thế phát triển và quy hoạch đô thị vài năm qua, nỗi ám ảnh về mục tiêu phát triển mới của thành phố này đã trở thành Thượng Hải.

Tuy nhiên, liệu Bombay - cái tên vẫn thường được biết đến của Mumbai - có sẽ thực sự phát triển theo đúng tiến trình như của Thượng Hải trước đây hay không? Theo những cử tri cấp tiến và những người phản đối xu hướng này ở Bombay thì câu trả lời có lẽ là không. Và chắc là thành phố này cũng không muốn như vậy.

Kể từ năm 2004 khi Thủ tướng Manmohan Singh nói rằng Bombay sẽ trở thành một Thượng Hải thứ hai vào năm 2010, thành phố 17 triệu dân này đã trở nên nhộn nhịp bởi vô số các hoạt động, với sự gia tăng nhu cầu về các nguồn lực phục vụ cho việc cải thiện cơ sở hạ tầng, và sự kêu gọi phải áp dụng những biện pháp hạn chế số người lao động đang hàng ngày đổ về thành phố này để tìm việc làm. Đã có những kế hoạch xây dựng thêm những chiếc cầu vượt và cầu nối biển, cải thiện sân bay, nâng cấp các bệnh viện và thành lập các đường liên kết đường bộ tốt hơn. Các bộ luật liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai đã được thay đổi nhằm cho phép những người sở hữu các nhà máy dệt hiện không còn hoạt động xây dựng lại các khu đất đó, và nhiều nhà máy đã xây dựng những khu phố cho người dân đi dạo và mua sắm hàng hoá, đồng thời nhằm tăng quy mô của các khu liên hợp nhà ở và văn phòng.

Năm 2001, giới doanh nghiệp ở đây đã thành lập một nhóm vận động hành lang có tên gọi là Bombay First, hai năm sau đó, họ đã uỷ thác cho hãng tư vấn McKinsey&Co xây dựng một khung chiến lược để biến Bombay thành một thành phố đẳng cấp thế giới. Trong bản báo cáo Tầm nhìn Bombay của mình, hãng này đã đặt ra tám ưu tiên nhằm đạt được sự tăng trưởng cao hơn, trong đó bao gồm các vấn đề nhà ở, giao thông, giáo dục và cơ sở hạ tầng được cải thiện. Cũng sẽ sớm có một bản báo cáo của một nhóm các chuyên gia đưa ra đề xuất về những chính sách phù hợp để có thể làm cho Bombay trở thành một trung tâm tài chính quốc tế.

Bang Maharashtra nơi Bombay là thủ phủ đã phấn khởi đón nhận những ý tưởng này, và trong các bài phát biểu của mình, Ông Vilasrao Deshmukh - Thủ hiến bang - luôn đưa ra những lời hứa hẹn rằng sẽ biến Bombay trở thành một Thượng Hải thứ hai.
 Bất kỳ chướng ngại vật nào cản trở việc thực hiện mục tiêu này đều bị gạt sang một bên: Năm ngoái, chính phủ bang này đã cho phá bỏ khoảng 90.000 căn nhà tạm vốn là nơi cư trú của những người nghèo (và thậm chí trong một số trường hợp có cả những người ở tầng lớp trung lưu) của thành phố. Và việc phá bỏ này đã chỉ dừng lại khi có sự can thiệp của những quan chức thuộc chính phủ trung ương, họ nhận thấy rằng việc những người nghèo cư ngụ tại những vùng đất quan trọng có thể không có ý nghĩa về mặt kinh tế và có thể gây chướng mắt, song những người nghèo vẫn có quyền bỏ phiếu.

Và chính tinh thần trách nhiệm đó đối với cử tri, cho dù vì bất cứ động cơ nào đi chăng nữa, làm cho Bombay khác với Thượng Hải. Ở Trung Quốc, các nhà lãnh đạo thành phố có thể san bằng những căn nhà và những khu vực có ý nghĩa quan trọng trên phương diện lịch sử để phục vụ cho việc xây dựng những khu phố buôn bán mới. Trong khi đó thì ở Bombay, những nhà hoạt động xã hội bảo vệ quyền lợi cho nhân dân và những nhà môi trường sẽ chống lại bất cứ biện pháp nào mà họ không thích, thông qua việc sử dụng quyền lực của toà án; và họ thường thành công trong việc sửa đổi - đôi khi còn làm thất bại - những chương trình, kế hoạch phớt lờ lợi ích của người dân. Họ chất vấn chính quyền về những ưu tiên phát triển đem lại lợi ích cho người giàu nhiều hơn người nghèo, chẳng hạn như họ tham gia vào chiến dịch vận động để yêu cầu chính quyền có những chương trình nhà ở với chi phí thấp và có những khoảng đất trống. Họ muốn chính quyền đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực giao thông công cộng (và không xây dựng những chiếc cầu vượt) để tất cả mọi người đều có thể chung sống trong thành phố, chứ không phải chỉ dành cho một số ít người thuộc tầng lớp trên cùng của xã hội

Trong khi đó, những người ủng hộ cho chiến lược phát triển Bombay thì lại than khóc cho những động thái chính trị này, và quy tội cho các nhà hoạt động xã hội và các nhóm hoạt động vì môi trường là phớt lờ lợi ích quốc gia. Họ than khóc rằng với tốc độ như thế này thì Bombay có thể sẽ chẳng bao giờ trở thành một Thượng Hải thứ hai được.

Điều đó có lẽ là đúng. Song như thế lại hay, vì những lý do sau.

Với tư cách là thủ đô tài chính của Ấn Độ và là quê hương của Bollywood, Bombay là sự kết hợp tuyệt vời giữa nghị lực của Manhattan với công nghệ lăng xê siêu đẳng của Hollywood, tạo ra một hỗn hợp độc nhất vô nhị của tính hiệu quả không ngừng và sự đa cảm đến không ngờ. Nhiều ngành, lĩnh vực của thành phố hoạt động tốt một cách đáng kinh ngạc - chẳng hạn như hoạt động kinh doanh dịch vụ phân phối bữa trưa của Dabbawallahs, hay những chuyến tàu hoả quá tải vận chuyển nhiều hành khách hơn, với tần số lớn hơn và trong thời gian dài hơn bất cứ hệ thống vận chuyển công cộng nào có thể so sánh được trên thế giới. Còn với tư cách là một thành phố buôn bán, Bombay đã phát triển thịnh vượng bằng cách thực hiện chính sách mở cửa với tiền tệ, con người và với những ý tưởng, một thành phố mà tại đây bất cứ ai cũng có thể trở thành một ngôi sao điện ảnh hay một nhà kinh doanh giàu có và đầy quyền lực, và những vấn đề về sự phân chia thành trì, sự bất đồng ngôn ngữ và sự phân hoá về mặt tôn giáo - vốn thường xuyên quấy rầy lục địa Ấn Độ - lại dường như không có gì quan trọng đối với hầu hết cư dân của thành phố này vào bất cứ thời điểm nào.

Vai trò trung gian tài chính của Bombay hết sức quan trọng. Chắc hẳn ai cũng có thể cảm thấy sửng sốt khi biết rằng 80% số lượng các quỹ tương hỗ được đăng ký ở Bombay. Hầu như tất cả các giao dịch liên quan đến các tổ chức tài chính và hơn 90% các giao dịch ngân hàng thương mại được hình thành ở đây. Hai thị trường chứng khoán của thành phố này chiếm tới 92% tổng doanh thu từ thị trường chứng khoán của Ấn Độ.

Thành phố này luôn tin rằng nó là Urbs prima in indes dù không vì bất cứ lý do nào cả, và trước khi mắc vào nỗi đam mê Thượng Hải, mô hình phát triển vị thế mà nó đã từng mong muốn đạt được chính là New York - một nơi cư tụ khác nằm ngay sát biên giới của một quốc gia lớn - chứ không phải là Thượng Hải.

Song, do sự kình địch về kinh tế giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của dư luận toàn cầu, và do sự dự đoán của các nhà kinh tế rằng Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, nên nhiều người ở Bombay muốn để ý đến Thượng Hải. Và từ đó họ bắt đầu trở nên không thực tế, họ kinh ngạc về sự kết nối từ hệ thống đường sắt trên không điều khiển bằng điện từ đến sân bay, thán phục tốc độ xây dựng các toà nhà chọc trời (theo số liệu thống kê mới nhất, Thượng Hải hiện có nhiều toà nhà chọc trời hơn ở Manhattan), và sự sạch sẽ của khu vực xung quanh Bến Thượng Hải. Và cuối cùng họ kết luận rằng, nếu như đã từng có một cuộc tranh đua giữa Trung Quốc và Ấn Độ thì chắc chắn Trung Quốc đã thắng.

Tuy nhiên, đối với bất cứ ai đã từng biết rõ về vụ sụp đổ hệ thống cơ sở hạ tầng của Bombay vào năm 2005 - khi một lượng mưa lên tới 37 inch đã đổ xuống và làm tràn ngập toàn thành phố chỉ trong vòng 24 giờ, thì mục tiêu trở thành một thành phố Thượng Hải thứ hai của thành phố này nghe lại có vẻ lố bịch. Khoảng 500 người đã chết và hàng nghìn ngôi nhà đã bị phá huỷ, dù Bombay đã cố gắng hết sức để đối phó với những con phố ngập nước, trong điều kiện hệ thống điện và điện thoại đều bị ngừng trệ.  Người dân phải lội bộ về nhà qua hàng dặm đường nước cao đến ngực, rác rưởi trôi nổi xung quanh.

Trong một báo cáo đánh giá nghiêm khắc với tiêu đề Bom bay bị bỏ hoang, tổ chức Environment Trust của Ấn Độ đã kiên quyết đổ lỗi cho sự thất bại trong công tác quản lý thành phố, vì đã cho phép các hoạt động xây dựng không có quy hoạch nên đã phá huỷ hệ thống thoát nước tự nhiên của thành phố này. Theo ông Bittu Sahgal - một nhà môi trường hàng đầu - nạn lụt lội xảy ra trên quy mô lớn là không thể tránh khỏi do chính phủ vẫn tiếp tục khai hoang đất dẫn đến tình trạng lầy lội, và phá bỏ những bụi cây đước để mở đường cho việc xây dựng thêm các toà cao ốc. Gạch, đá vụn từ các dự án xây dựng, trong đó không phải tất cả đều đã được cấp phép, cũng bị đổ xuống các khu vực đầm lầy, bít kín các cống thoát nước, làm cho nước phải chảy vào các con phố. Ông Naresh Fernandes - đồng biên tập của tờ Time Out Mumbai - đã viết: “Việc trở thành một thành phố đẳng cấp thế giới liệu có hay ho gì khi mà cứ mỗi đợt gió mùa Bombay lại trở thành một Đại Tây Dương?”

Và chỉ trong vòng một năm sau đó, công tác quản lý thành phố lại một lần nữa suy sụp sau khi một loạt các vụ đánh bom được chuẩn bị kỹ lưỡng đã phá huỷ bảy đoàn tàu đang hoạt động trong giờ cao điểm vào ngày 12/07/2007, làm chết 200 người và 700 người khác bị thương. Sau đó, nhiều người đã phải ca ngợi khả năng phục hồi nhanh chóng của thành phố - các đoàn tàu đã hoạt động trở lại chỉ trong vòng sáu tiếng đồng hồ - tuy nhiên hầu hết mọi người đều phàn nàn về sự thất bại hoàn toàn của chính quyền bang trong việc sắp xếp các hoạt động cứu trợ.

Song dù vậy, nhiều người dân ở Bombay nghĩ rằng thành phố này có thể ở trong cùng nhóm như Thượng Hải. Sự thịnh vượng mà chúng ta có thể nhìn thấy ở Bombay là một nguồn hy vọng, với những khu phố buôn bán sầm uất ở những vùng ngoại ô rộng lớn và ở trung tâm thành phố, và những chiếc xe hơi hợp thời trang chạy tấp nập trên những con đường đông đúc của thành phố. Ông Deshmukh đã thông báo một chương trình phát triển cơ sở hạ tầng trị giá 6,5 tỉ USD, trong đó bao gồm các kế hoạch xây dựng một hệ thống liên kết các đường tàu điện ngầm, một đường liên kết vượt cảng nối giữa vùng đảo và vùng đất liền, xây dựng các đường liên kết giữa các đường cao tốc chạy song song, hệ thống đường sắt vòng quanh thành phố, một nhà ga cuối dành cho các toa tàu chở hàng; kế hoạch di dời các khu vực xâm lấn, kế hoạch làm đẹp sân bay quốc tế và một kế hoạch nâng cấp các bệnh viện trong thành phố. Những người lập kế hoạch hy vọng rằng đến năm 2013 Bombay sẽ lấy làm kiêu hãnh về những con đường rộng rãi, những quốc lộ hiện đại, những chuyến tàu đầy đủ tiện nghi và những cuộc dạo chơi bằng đường biển của nó.

Song nghịch lý là ở chỗ: Bombay càng phát triển thịnh vượng, và những khu vực còn lại của Ấn Độ càng khám phá ra nhiều điều lý thú ở thành phố này thì nó càng trở nên hấp dẫn và do đó dẫn tới việc càng có nhiều người di chuyển đến thành phố này. Trong hàng thập kỉ, những người dân Bombay luôn cằn nhằn rằng thành phố không có đủ chỗ cho tất cả mọi người, trong khi mỗi ngày vẫn có từ 1.000 đến 5.000 người đến thành phố.
Tất nhiên, có những biện pháp mang tính sáng tạo mà Bombay có thể áp dụng để sử dụng tốt hơn đất đai của mình. Theo bản báo cáo của McKinsey, để cung cấp đủ chỗ ở cho tất cả cư dân, diện tích đất sẵn có trong thành phố sẽ phải tăng lên 50 đến 70%. Những quy định hạn chế trong lĩnh vực xây dựng, như quy định về Hệ số sử dụng đất (Floor Space Index) và các điều luật về quy hoạch vùng ven biển, sẽ phải thay đổi. Các bộ luật khác đã được thông qua trong thời kỳ Ấn Độ phát triển theo hướng của chủ nghĩa xã hội, như Đạo luật kiểm soát hoạt động thuê và cho thuê và Đạo luật về diện tích nắm giữ tối đa đất đô thị, sẽ cần phải được bãi bỏ.

Bombay là một thành phố đông đúc và đất đai thì khan hiếm. Chi phí nhà ở, trong đó bao gồm tiền thuê, các khoản thuế địa phương và các loại phí dịch vụ, ở mức 52,74 đôla trên một phút vuông mỗi năm, cao hơn bất cứ nơi nào ở Ấn Độ. Chi phí nhà ở quá cao đến mức những người mong muốn có một cuộc sống chất lượng hơn phải chuyển đến sống ở những thành phố khác. Một bộ phận dân cư ở tầng lớp trung lưu buộc phải sống trong những khu nhà ổ chuột, còn những người khác thì phải vượt qua những quãng đường rất xa để đến nơi làm việc. Trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông của thành phố lúc nào cũng trong tình trạng quá tải như hiện nay, thì sự nỗ lực hàng ngày của những người dân ngoại thành này quả thực là một sự thử thách về khả năng chịu đựng.

Vào những năm 50 của thế kỷ XIX, ngay sau cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh, những người quản lý thuộc địa của Anh đã cung cấp đất cho các nhà tư bản công nghiệp của Ấn Độ để xây dựng những nhà máy dệt. Ở vào giai đoạn phát triển cao nhất của nó, ngành công nghiệp này đã đem lại việc làm trực tiếp cho 250.000 người. Tuy nhiên sau đó sự cạnh tranh của sản phẩm sợi tổng hợp, sự xuất hiện của loại khung cửi dệt chạy bằng năng lượng, kết hợp với một kế hoạch đầu tư sai lầm vào những năm 1980, đã tàn phá ngành công nghiệp này, làm cho gần 100.000 công nhân mất việc làm. Hiện nay, chỉ có một số ít nhà máy đang còn hoạt động, với khoảng 20.000 công nhân.

Những người chủ sở hữu của các nhà máy dệt nợ chồng chất này nói rằng chỉ có một cách duy nhất giúp họ trả được những khoản nợ, trong đó có cả tiền lương của công nhân, đó là xây dựng lại nhà xưởng. Chính quyền bang đã cho phép hoạt động này những với điều kiện phức tạp, đó là việc xây dựng mới phải đi kèm với việc để dành những khoảng không gian mở và phần đất để xây dựng nhà ở với chi phí thấp cho công nhân, và trả cho họ những gì mà họ có quyền được hưởng. Một số người đã đồng ý, nhưng cũng có những người không, chính vì thế hiện nay đang có một sự phát triển chắp vá lung tung, với một vài khu phố buôn bán nghe có vẻ hợp mốt và những tổ hợp văn phòng mọc lên bên cạnh những toà nhà đổ nát. Một cuốn sách mới xuất bản với tiêu đề Những nhà máy để bán: Con đường phía trước, trong đó phân tích việc người ta đã bỏ phí mất cơ hội cả đời người mới có một lần để thực hiện việc quy hoạch thành phố một cách tổng thể như thế nào, đồng thời dũng cảm đề xuất những giải pháp hợp lý về mặt xã hội. Người biên tập của cuốn sách - ông Darryl D’Monte - đã quy trách nhiệm cho công tác quy hoạch đô thị thiển cận, và tỏ ra không mấy lạc quan về Dự kiến Quy hoạch đất đai của thành phố trong trường hợp vùng đất rộng lớn thuộc Cảng Mumbai Port Trust bị trưng dụng.

Ở một vài khía cạnh, tính logic của thị trường sẽ buộc nhiều người nghèo đang sống trong những công trình xây dựng bị hư hỏng xung quanh các nhà máy phải rời khỏi những toà nhà đó và chuyển vào sống trong các khu nhà ổ chuột. Song ở đó, họ sẽ không có bất cứ sự đảm bảo nào về quyền chiếm hữu, bởi vì những khu nhà ổ chuột mới luôn là đích ngắm đầu tiên của Ban Xoá bỏ nhà ổ chuột của thành phố. Ông Arputham Jockin - Chủ tịch Liên đoàn quốc gia những người sống trong các khu nhà ổ chuột - nói “Nếu như những khu nhà ổ chuột cần phải được xoá bỏ, thì việc  trước tiên người ta phải làm là vạch ra một kế hoạch tái định cư thích hợp cho những người sống trong những khu nhà đó. Tại sao chính phủ không thể cung cấp những căn nhà có quy mô lớn, chi phí thấp cho họ?”.

Chính quyền bang cho biết đã có những kế hoạch cung cấp nhà ở cho người nghèo tại những khu đất trước kia là những hồ muối bên ngoài thành phố. Tuy nhiên theo lập luận của Ông Kalpana Sharma - người chuyên viết về những vấn đề phát triển cho người Hindu - thì những khu vực đó không chỉ dễ bị tổn hại về mặt môi trường mà hầu như còn không có sự liên kết nào đối với thành phố. “Người ta mong đợi những người nghèo sống trong những khu vực xa xôi đó… Trong khi lại có những kế hoạch mở rộng những khu đất nhà xưởng để xây dựng những khu nhà ở thượng hạng, rõ ràng là để dành cho người giầu.”

Cứ năm người dân Bombay thì có ba người sống trong các khu nhà ổ chuột, và hàng triệu những người này đang phải chịu đựng gánh nặng chủ yếu của tình trạng quản lý yếu kém và hệ thống cơ sở hạ tầng hư hỏng. Họ bao gồm lực lượng cảnh sát của thành phố, những luật sư của các toà án cấp thấp, các nhân viên thư ký của Hội đồng thành phố, cũng như những người giữ trẻ, những người nấu bếp, lái xe, và những người giúp việc. Nhiều người trong số họ đến từ những thành phố khác của Ấn Độ. Việc bắt họ di dời sẽ đồng nghĩa với việc phá hoại mạng lưới những mối quan hệ vẫn luôn đóng vai trò thúc đẩy các hoạt động của thành phố.

Đây chính là điểm mấu chốt mà một nhà chính trị như Bal Thackeray - người lãnh đạo Đảng chính trị theo chủ nghĩa dân tộc Hindu đi theo hướng sô-vanh của người Maratha - Shiv Sena tập trung chú ý trong kế hoạch Thượng Hải hoá thành phố của mình: Áp dụng những quy định hạn chế đối với “những người từ nơi khác đến”. Kế hoạch của Ông Thackeray, cũng như nhiều ý định của ông đều trái pháp luật, song điều này cũng không ngăn cản được sự thịnh hành rộng rãi của những ý tưởng này trong xã hội. Mặc dù đã có tiếng từ lâu về các hoạt động chính trị mang tính khích động, hiếu chiến và tính du côn, song Đảng của ông này vẫn chiến thắng các cuộc bầu cử để giành quyền kiểm soát Hội đồng thành phố của thành phố này - cơ quan quyền lực giàu có nhất đất nước. 

Ý tưởng hạn chế sự nhập cư của những người ngoài thành phố khá phố biến trong nhiều người dân ở Bombay, tuy nhiên nó không có cơ hội được chấp nhận ở cấp độ quốc gia, điều này làm cho những người ủng hộ cho Bombay cảm thấy bi quan. Họ sợ rằng những diễn biến chính trị của Ấn Độ sẽ ngăn cản Bombay đạt được vận mệnh của nó. Song họ đã nhầm lẫn điểm mạnh của thành phố thành điểm yếu của nó.

Thực ra mà nói, các hoạt động chính trị đáng bị khiển trách. Kể từ khi giành được độc lập 60 năm về trước, các chính trị gia của Ấn Độ đã dành những nguồn lực thiếu cân đối cho những khu vực nông thôn ở trong nội địa với mức chi phí như cho các thành phố lớn. Việc làm này đã rất có ý nghĩa vào năm 1947, song ngày nay, gần một phần ba số người Ấn Độ đang sống ở các thành phố lớn. Các chính trị gia đã không theo kịp được sự thay đổi đó.

Mỗi năm Bombay đóng góp 38% tổng số thu về thuế của Ấn Độ, tuy nhiên họ nhận lại được rất ít. Phần đóng góp hàng năm của thành phố này cho ngân khố của bang và của quốc gia lên tới 9 tỉ USD; trong khi đó số tiền chi tiêu từ vốn do chính quyền bang cấp cho ở thành phố này chỉ là 57 triệu USD.

Bombay chỉ bầu có 06 nghị sĩ, trong khi với số dân 17 triệu người, đáng lẽ ra nó phải có 10 nghị sĩ thì mới tương ứng với tỷ trọng dân số của nó so với cả nước. Các nhà chính trị của thành phố thì hiếm khi tham gia vào chính phủ trung ương. Không có ai dấu tranh cho những mối quan tâm và những lợi ích chính đáng của thành phố, và thị trưởng thành phố thì có rất ít quyền hành.

Chicago đã có Ông Daleys đỡ đầu, New York đã có Ông Ed Koch, thậm chí Thượng Hải đã có Ông Chu Dung Cơ. Nếu so sánh với những thành phố đó thì Bombay chỉ là một đứa trẻ mồ côi. Thành phố này đáng được đánh giá tốt hơn, và một Bombay phát triển thịnh vượng sẽ không chỉ quan trọng đối với Ấn Độ, mà còn đối với cả khu vực Châu Á.

Nhưng Bombay không thể giống như Thượng Hải trừ phi Ấn Độ trở thành một đất nước như Trung Quốc. Và điều đó sẽ đồng nghĩa với việc có một hệ thống chính trị trong đó một nhóm người nắm giữ quyền lực cao nhất của đất nước sẽ quyết định cái gì là tốt nhất cho xã hội và áp đặt quyết định đó lên toàn xã hội, cùng với đó là những biện pháp kiểm soát khắc nghiệt để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả quyết định đó.

Sự mê muội của Bombay đối với Thượng Hải ngày nay cũng tương tự như cái cách mà trước đây các nước phương Tây đã lo lắng về khả năng khối các nước thuộc Liên Xô cũ sẽ bỏ rơi họ lại đằng sau. Tuy nhiên theo những lưu ý mà nhà kinh tế học và cũng là người đã nhận được Giải thưởng Nobel - Ông Amartya Sen - đã đưa ra trong buổi hội thảo của ông về nạn đói kém ở Ấn Độ và Trung Quốc, thì xét cho cùng, các nước theo chế độ dân chủ vẫn vận hành tốt hơn bởi vì hệ thống chính trị coi trọng trách nhiệm giải trình mà họ duy trì đòi hỏi các chính phủ phải có hành động hiệu quả khi có vấn đề gì xảy ra. Trong khi những xã hội phi dân chủ có thể áp đặt những quy định kiểm soát và phớt lờ những tiếng kêu than của người dân ở các vùng nội địa; thì các xã hội dân chủ không thể làm như thế. Tình trạng đó làm chậm lại tiến trình phát triển của xã hội.

Những nhà hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của những người sống trong các khu nhà ổ chuột, những người không có ruộng đất, và thậm chí cả những vực đầm lầm và những con chim hồng hạc thường không thể tồn tại được trong môi trường chính trị của Trung Quốc. Nhưng ở Bombay thì họ lại có thể tồn tại và hoạt động. Nhưng đó lại là dấu hiệu về thế mạnh của Bombay, chứ không phải là điểm yếu. Bombay chắc chắn xứng đáng có được những toà nhà và hệ thống cơ sở hạ tầng tốt hơn, giống như ở Thượng Hải. Song tương tự, để có thế trở thành một thành phố đẳng cấp thế giới, Thượng Hải cũng cần phải có một không gian thông thoáng hơn cho các hoạt động chính trị dũng cảm như người ta vẫn thường thấy ở Bombay./.

International Trade


Bản quyền thuộc về Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Giấy phép số 39/GP-BVHTT do Bộ Văn hóa - Thông tin cấp ngày 29 tháng 01 năm 2003
Chịu trách nhiệm chính: TS. Đoàn Duy Khương, Phó Chủ tịch. ĐT: 5742022, Fax: 5742017, Email:
webmaster@vcci.com.vn