|
Thiên nhiên dường như quá ưu ái đối với đất nước Braxin.
Một cây thông trồng ở Khu rừng Finnish sau 50 năm có thể đem ngiền nát và xay thành giấy. Một cây bạch đàn ở Espírio Santo trên vùng bờ biển của Braxin sau 7 năm tuổi thì có thể khai thác được. Những người trồng vườn ở Petrolina thuộc phía đông bắc của Braxin thu hoạch nho hai lần một năm, nhiều gấp hai lần so với những đối thủ cạnh tranh của họ ở Pháp. Nhà sản xuất thịt Sadia thì không cần phải sử dụng điện để sưởi ấm cho những khu chuồng gà của mình, trong khi những đối thủ cạnh tranh của họ ở các vùng khí hậu lạnh hơn thì ngược lại. Braxin được hưởng nhiều ánh nắng, tài nguyên đất và nước hơn tất cả các nước khác trên thế giới, và trong việc sản xuất khá nhiều mặt hàng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố này, kể cả đỗ tương, đường và thịt bò, đất nước này hoàn toàn có ưu thế vượt trội.
Lợi thế về mặt thiên nhiên này nhắc chúng ta nhớ về một mối băn khoăn trước đây vẫn thường tồn tại ở một số quốc gia. Trong nhiều năm của thế kỉ 20, những quốc gia nằm bên lề của thế giới giàu có đã than vãn về sự phụ thuộc của họ vào hàng hoá (đối với Braxin là đường, cà phê và cao su) và nóng lòng muốn trở thành những nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Những thay đổi bắt đầu xuất hiện từ nhiệm kỳ của Ông Getúlio Vargas - người kế tiếp trong một loạt những vị tổng thống giỏi thời kỳ đó - người đã đưa đất nước Braxin dò dẫm bước vào vào kỷ nguyên công nghiệp nhưng lại thường ít để ý đến những vấn đề về chi phí hoặc lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế. Và chính sự mở cửa một phần nền kinh tế vào năm 1990 do Tổng thống Fernado Collor - người sau này bị buộc tội tham nhũng - khởi xướng đã đẩy mạnh nền công nghiệp nước này vào thời kỳ hiện đại hoá.
Hiện nay người dân Braxin đang lo lắng về khả năng nền kinh tế của họ có thể bị trượt trở lại giai đoạn phụ thuộc vào hàng hoá. Sự phát đạt trong việc bán nguyên, vật liệu thô và những mặt hàng cơ bản khác đã đẩy giá đồng real lên cao, điều này làm cho các sản phẩm xuất khẩu khác của Braxin bị giảm khả năng cạnh tranh so với hàng hoá cùng loại của nước khác và đặt nền công nghiệp nước này vào tình trạng khó khăn do có sự xuất hiện của những hàng hoá nhập khẩu giá rẻ hơn, đặc biệt là từ Trung Quốc. Thực trạng này đang dẫn đến những tin đồn về “xu hướng giảm công nghiệp hoá” và “tệ nạn kiểu Hà Lan”. Theo ông Eugênio Staub - người đứng đầu Hãng Gradiente: “Chúng ta có khả năng cạnh tranh ở nơi nào mà thiên nhiên ủng hộ”. Tuy nhiên, ông đã không tính đến những chiếc ti vi và điện thoại di động của công ty ông trong số những bên được hưởng lợi.
Cho đến nay, vẫn có rất ít bằng chứng cho thấy một xu hướng giảm công nghiệp hoá trên quy mô lớn. Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên đã tăng mạnh trong giai đoạn từ 1989 đến 2005, tuy nhiên một nửa giá trị xuất khẩu các mặt hàng này là từ dầu mỏ, và tỷ trọng hàng hoá ứng dụng công nghệ trung và cao cũng đã tăng nhẹ trong giai đoạn này. Một nghiên cứu do Ngân hàng phát triển quốc gia Braxin - BNDES - thực hiện đã rút ra kết luận rằng không có một sự thay đổi tổng thể về sản lượng hàng hoá đối với những ngành công nghiệp phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.
Tuy nhiên đồng real vẫn mạnh, và sự lo lắng vẫn tiếp tục gia tăng. Ông Edgard Pereira - chuyên gia kinh tế trưởng của Hiệp hội công nghiệp IEDI - đã lưu ý rằng: năm ngoái, thặng dư thương mại của hàng hoá sản xuất hàng loạt đã có sự sụt giảm đầu tiên kể từ năm 2000. Kết quả xem xét lại các số liệu liên quan đến GDP vào tháng ba vừa qua đã cho thấy rằng lĩnh vực dịch vụ có tỷ trọng cao hơn và lĩnh vực công nghiệp có tỷ trọng thấp hơn trong nền kinh tế so với mức mà người ta đã nghĩ trước đây. Tiêu dùng và đầu tư nội địa đang tăng trưởng với một tốc độ vững chắc, song sản xuất thì không được ổn định như vậy, một phần là do hàng hoá nhập khẩu đã bù đắp lượng cầu trong nước. Những hàng hoá đòi hỏi nhiều lao động như giầy dép và quần áo đang phải chịu nhiều áp lực nhất. Nền công nghiệp ô tô (được bảo hộ) thì đang phát triển nhanh nhờ có những quy định tín dụng thông thoáng hơn. Tuy nhiên trong năm nay, đồng real mạnh đã buộc Hãng Volkswagen phải từ bỏ kế hoạch sử dụng Braxin làm địa bàn để xuất khẩu kiểu xe Compact Fox của họ sang châu Âu. Braxin ít có nguy cơ trở thành một căn nhà kính ngoài trời. Song việc nền kinh tế có thể đang bắt đầu quá trình chuyên môn hoá thì có lẽ vừa đáng vui, vừa đáng buồn.
Hương vị ngọt ngào của sự thành công
Thật may mắn là nền kinh tế nhiên liệu của Braxin khá đa dạng. Có thể đơn cử ra đây trường hợp mặt hàng ethanol. Sản phẩm ethanol của Braxin, nhờ có cây mía, nên rẻ hơn so với ở bất cứ nơi nào trên thế giới và điều đó đã khuyến khích nhiều dự án đầu tư đổi mới, cải tiến công nghệ sản xuất sản phẩm này vượt xa so với mức hàng hoá cơ bản. Ông Fernando Reinach thuộc Tổ chức Votorantim Novos Negócios chuyên vận hành một quỹ đầu tư mạo hiểm tập trung vào các dự án đổi mới, cải tiến công nghệ sản xuất ethanol, cho biết: “Đối với việc sản xuất các sản phẩm nhiên liệu sinh học, đất nước chúng tôi đột nhiên lại đứng ở đầu trận tuyến”.
Đó là một sự thay đổi hoàn toàn đối với ngành đường - một ngành công nghiệp vốn trước kia có tiếng xấu về tình trạng bóc lột lao động, tình trạng nợ đọng kéo dài và tình trạng ô nhiễm. Ethanol bắt đầu được sản xuất sau những cơn sốc về giá dầu của những năm 70 của thế kỉ trước, Braxin không thể trang trải nổi chi phí xăng dầu nữa và những kẻ độc quyền đã xui khiến ngành ô tô chuyển đổi từ sử dụng xăng sang sử dụng ethanol. Khoảng năm 1990 khi giá dầu giảm xuống, chương trình Proálcool đã kết thúc với một tàn tích còn để lại: những người trồng mía lại chuyển từ phục vụ ngành sản xuất ethanol sang ngành sản xuất đường, và do đó đã làm cho những người lái những chiếc ô tô chỉ sử dụng ethanol tức điên lên. Tuy nhiên, chương trình này cũng để lại một hệ thống phân phối ethanol tại các trạm xăng mà nhờ có hai sự kiện diễn ra gần đây nên hệ thống này lại được xem như tài sản quốc gia. Sự kiện thứ nhất là việc Braxin phát minh ra những chiếc ô tô sử dụng nhiên liệu hỗn hợp - những chiếc xe này có thể chạy dễ dàng với hỗn hợp nhiên liệu ethanol và dầu hoả dù với bất cứ tỉ lệ pha trộn nào. Được đưa ra thị trường vào năm 2003 và được hưởng một sự trợ cấp nhỏ của Chính phủ, những chiếc xe này có giá không cao hơn những chiếc xe sử dụng một loại nhiên liệu và hiện nay chúng chiếm đến 83% lượng xe mới được bán ra ở Braxin.
Sự kiện thứ hai là sự nhận thức, tuy khá chậm trễ, của thế giới về thực tế hành tinh của chúng ta đang bị đốt nóng quá mức dưới tác động của các loại nhiên liệu hoá thạch hiện vẫn đang bị khống chế bởi những cơ chế láu cá và giá cả của chúng thì quá đắt đỏ. Tháng một vừa qua, Tổng thống George Bush đã thông báo một phiên bản Mỹ của Chương trình Proálcool với mục đích cắt giảm 1/5 lượng tiêu thụ xăng của thế giới, và vì thế Ông đã ký với Tổng thống Lula một Hiệp định nhằm phổ biến rộng rãi hoạt động sản xuất và tiêu dùng ethanol trên toàn thế giới.
Sẽ phải mất một thời gian thì các nước trên thế giới mới có thể theo kịp Braxin - tại đây ethanol đã chiếm đến 40% tổng lượng nhiên liệu được sử dụng cho xe hơi. Mỹ thì khẳng định rằng họ sẽ sản xuất hầu hết ethanol bằng ngô tự trồng, tuy nhiên phương pháp này đắt hơn nhiều so với phương pháp dựa vào cây mía của Braxin và nó đốt cháy lượng nhiên liệu nhiều gấp 7 lần lượng nhiên liệu hoá thạch cần có để có thể tạo ra một đơn vị năng lượng. Không một quốc gia nào có thể đạt được hệ thống phân phối như của Braxin, vì thế trong ngắn hạn ethanol chủ yếu sẽ chỉ là phần phụ thêm vào nhiên liệu, chứ không phải là thành phần chính. Thậm chí tình trạng này còn có thể gây ra một cơn sốt ethanol. Braxin hiện nay sản xuất 18 tỉ lít ethanol mỗi năm, trong đó 4 tỉ lít dành cho xuất khẩu - chiếm hơn một nửa tổng lượng xuất khẩu ethanol của toàn thế giới. Lượng tiêu thụ ethanol ở Braxin đến năm 2013 dự kiến sẽ tăng gấp đôi. Đến năm 2020, kim ngạch thương mại của ethanol trên toàn cầu có thể tăng gấp 25 lần.
Nếu những tính toán trên chính xác thì Braxin sẽ cần số tiền 90 tỉ đôla để đầu tư xây dựng những nhà máy mới, thêm 2 tỉ đôla để xây dựng hệ thống đường ống dẫn, đường ray và kho chứa. Theo Hãng tư vấn công nghiệp Datagro cho biết: hiện đất nước này đang có 357 nhà máy và đang lập kế hoạch xây dựng thêm 136 nhà máy mới với tổng chi phí là 14,5 tỉ đôla. Các chủ đầu tư phần lớn đều thuộc Braxin, tuy nhiên cũng có các công ty Louis Dreyfus và Tereos của Pháp và Cargill của Mỹ. Liệu có một sự hăng hái quá mức không. Chuyên gia tư vấn David Bunce thuộc Hãng KPMG lo lắng nói: “Quá nhiều tiền đang được dành để theo đuổi quá ít cơ hội”.
Để có thể trở thành một mặt hàng chủ lực trong thực đơn năng lượng hàng ngày của thế giới, ethanol cần phải trở thành một hàng hoá thực sự, có những tiêu chuẩn được công nhận trên toàn cầu về độ tinh khiết và một thị trường hàng bán giao sau phát triển mạnh. Tuy nhiên, ngành công nghiệp này lại từ chối thừa nhận dấu hiệu về tình trạng hàng hoá của ethanol. Những người công nhân tại các nhà máy mới thì mặc những chiếc áo khoác màu trắng, và các phòng thí nghiệm thì đang thi nhau mọc lên xung quanh các nhà máy này. Biocell là một trong số một vài công ty về công nghệ sinh học đang nghiên cứu để tìm cách chuyển đổi hai phần ba số nhà máy sản xuất đường từ mía hiện bị bỏ không thành những nhà máy sản xuất ethanol. Còn Alellyx - công ty mà Ông Reinach phàn nàn rằng đó là đơn vị duy nhất chiết xuất DNA đường mía - cũng đã bắt đầu tiến hành những thử nghiệm trên thực địa về một loại giống mới với lượng sucrôza - nguyên liệu thô để làm ra đường hoặc nhiên liệu - nhiều hơn so với loại giống chuẩn đến 80%. Các nhà nghiên cứu cũng đang nghiên cứu những giống cây có thể chịu được hạn hán để có thể đem trồng ở những vùng xa khu trung tâm Sao Paolo.
Hoà nhập với xu hướng của toàn cầu
Tuy vậy thì đất nước Braxin thống nhất cũng đang hoà nhập với xu hướng của thế giới theo nhiều cách khác nhau. Đã xuất hiện một công ty đa quốc gia của Braxin có vai vế trên thương trường quốc tế. Được tư nhân hoá vào năm 1997, năm ngoái Companhia Vale do Rio Doce (CVRD) đã trở thành công ty khai thác mỏ lớn thứ hai thế giới khi nó mua được Inco - một nhà sản xuất niken của Canada. Hãng Gerdau thì bằng việc mua lại các công ty kinh doanh ở 9 quốc gia, trong đó có cả Mỹ, đã trở thành nhà sản xuất các sản phẩm thép dài lớn nhất khu vực Châu Mỹ. Còn Embraer thì trở thành chiếc Boeing của thị trường máy bay phản lực trong khu vực. Và nhờ có cuộc mua bán của CVRD, năm ngoái là lần đầu tiên tổng giá trị đầu tư ra nước ngoài của Braxin đã vượt quá tổng giá trị đầu tư vào trong nước của các công ty nước ngoài.
Các ông chủ người Braxin cho rằng họ đã chiến thắng được những khó khăn của nền kinh tế bằng cách cắt giảm các chi phí, củng cố hoạt động kinh doanh và chuyên nghiệp hoá hoạt động quản lý doanh nghiệp của họ. Nếu như người ta tin vào cuốn sách mới được xuất bản gần đây “Sucesso Made in Brasil” của hai tác giả Donald Sull và Martin Escobari, thì rõ ràng hai ông này đã tổng kết được những kỹ năng đặc biệt cần có đối với mỗi doanh nghiệp để có thể vượt qua được những tình trạng hỗn loạn và kịp thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh mới. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến 2005, doanh thu của các công ty được niêm yết công khai đã tăng nhanh hơn gấp ba lần so với toàn bộ nền kinh tế. Nhiều công ty trong số đó thuộc các ngành từ khai thác mỏ đến khai thác và quản lý trang trại. Sự liên doanh liên kết giữa Submarino và Americanas năm ngoái đã tạo ra một trong những công ty kinh doanh thương mại điện tử lớn nhất thế giới. Một số doanh nghiệp thì khiêm tốn nép mình bên những công ty đa quốc gia của Braxin, giống cái cách mà các công ty đang phát triển ở Mỹ cảm thấy thoải mái và dễ chịu khi hoạt động nhờ vào các trường đại học của nước này. Công ty Cordoaria São Leopoldo đã bắt đầu làm dây giầy và hiện đang sản xuất loại dây cáp sử dụng để cố định hệ thống dàn khoan nước sâu của Petrobras. Hãng Graúna thì sản xuất phụ tùng máy bay cho Embraer và cũng đang bắt đầu sản xuất để xuất khẩu.
Đôi khi để vượt qua những khó khăn của nền kinh tế Braxin cũng đồng nghĩa với việc đi xa khỏi đất nước này. Một trong những lý do khiến Gerdau hướng ra nước ngoài đó là do tỷ lệ tăng trưởng thấp và chi phí vốn cao của Braxin. Theo Ông José Roberto Mendonça de Barros thuộc Hãng tư vấn MB Associados: Các nhà sản xuất nay đã nhận ra rằng đồng đôla ở đây rẻ hơn và tỉ giá hối đoái thì không còn hay thay đổi như trước đây nữa. Vì thế họ bắt đầu hoạt động thuê gia công của nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc. Ba năm trước đây hãng Gradiente đã sản xuất hầu hết toàn bộ đầu ra của họ ở trong nước, nhưng đến nay họ đã thuê gia công ngoài đến 40% tổng sản lượng của mình, chủ yếu là từ Trung Quốc. Năm 2005, Hãng sản xuất giầy lớn nhất Braxin - Azaléia - đã đóng cửa một nhà máy của họ với 800 công nhân ở bang phía nam của Rio Grande do Sul và bắt đầu sản xuất giầy ở Trung Quốc.
Tuy vậy thì hầu hết các doanh nghiệp đều không có lối thoát. Theo IPEA, trong số 72.000 doanh nghiệp công nghiệp có nhiều hơn 10 người lao động, thì chỉ có 1.200 doanh nghiệp cạnh tranh bằng cách tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của họ. Các doanh nghiệp này chiếm một phần tư doanh số của khối doanh nghiệp song chỉ tạo ra 13% tổng lượng việc làm của toàn khối. Nhóm ở giữa với 15.000 doanh nghiệp chuyên sản xuất những sản phẩm được tiêu chuẩn hoá mà chủ yếu thường cạnh tranh bằng giá cả thì chiếm 63% doanh thu và tạo ra gần một nửa tổng lượng việc làm của toàn khối. Còn số doanh nghiệp còn lại, thì theo Ông João Alberto De Negri thuộc IPEA, họ gặp “những vấn đề nghiêm trọng về mặt năng suất và dành rất ít tiền cho hoạt động đầu tư”.
Ngoài tỉ lệ tăng trưởng kinh tế, sức khoẻ của nền công nghiệp Braxin còn phụ thuộc vào ba vấn đề. Thứ nhất là liệu xu hướng cải tiến và đổi mới có vượt ra khỏi được phạm vi số doanh nghiệp chiếm thiểu số rất nhỏ như hiện nay và lan rộng ra toàn ngành hay không? Hiện nay tổng chi tiêu dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của cả nước chỉ chiếm 1%GDP, mà trong đó phải đến hơn một nửa là do các trường đại học tiến hành. Trong khi đó, tỉ lệ này tính trung bình trong toàn khối OECD cao hơn, chiếm khoảng 2%GDP, và hai phần ba trong số đó là do các ngành công nghiệp thực hiện.
Vấn đề thứ hai là kết quả của Vòng đàm phán Doha về vấn đề thương mại đa phương. Với một kết quả đàm phán đúng kỳ vọng thì ngành nông nghiệp của Braxin sẽ là ngành được lợi lớn nhất, trong khi ngành sản xuất thì ít được bảo hộ hơn.
Vấn đề thứ ba và là vấn đề quan trọng nhất, đó là: Điều gì sẽ xảy ra với custo Brasil (chi phí của Braxin)?. Một khi công nghệ thay đổi thì ngay cả sản phẩm ethanol của Braxin cũng sẽ có thể bắt đầu bị coi nhẹ.
|