Cần phải giám sát chặt dòng vốn
Cập nhật :
10/06/2009 05:56
Khi TTCK sôi sùng sục mà những hỗ trợ của khu vực sản xuất vật chất không có, cứ mỗi một bước tăng điểm của thị trường thì nền kinh tế sẽ tiến gần hơn về khu vực mạo hiểm Khi TTCK sôi sùng sục mà những hỗ trợ của khu vực sản xuất vật chất không có, cứ mỗi một bước tăng điểm của thị trường thì nền kinh tế sẽ tiến gần hơn về khu vực mạo hiểm
Sau một loạt câu hỏi của công chúng về dòng vốn đang chảy đi đâu, gần đây theo thông tin từ vụ Dự báo và thống kê NHNN cho rằng đến cuối tháng 4/2009, dư nợ cho vay chứng khoán chỉ chiếm 0,5% tổng dư nợ và tương đương 4,4% tổng vốn điều lệ của hệ thống các tổ chức tín dụng… Đó là một mức rất thấp so với ước đoán và do đó lại càng làm cho công chúng rất ngạc nhiên…
Các quan ngại của các đại biểu Quốc hội vừa qua và khá nhiều ý kiến đồng nhất rằng, có một luồng tiền lớn không chảy vào khu vực sản xuất mà lại chảy vào vùng rủi ro nào đó (hàm ý chứng khoán, sàn vàng). Người ta cho rằng, không nhìn thấy nhiều chuyển biến ở khu vực sản xuất: như thất nghiệp vẫn gia tăng và thị trường xuất khẩu chưa có dấu hiệu hồi phục (đối với một quốc gia có giá trị xuất khẩu bằng 70% GDP). Và người ta cho rằng khi thị trường chứng khoán sôi sùng sục, mà những hỗ trợ của khu vực sản xuất vật chất không có thì cứ mỗi một bước tăng điểm của thị trường thì nền kinh tế sẽ tiến gần hơn về khu vực mạo hiểm.
Băn khoăn những con số
Theo thông tin công bố về cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản, số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 4/2009 cho thấy, dư nợ cho vay chứng khoán là 7.157 tỷ đồng, tăng 4% so với cuối năm 2008, chiếm 0,5% tổng dư nợ và tương đương 4,4% tổng vốn điều lệ của hệ thống các tổ chức tín dụng (một mức rất thấp so với giới hạn được phép là 20% vốn điều lệ).
Cũng tính đến cuối tháng 4/2009, dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản của các tổ chức tín dụng là 148.451 tỷ đồng, giảm gần 12% so với cuối năm 2008, chiếm 10,5% tổng dư nợ.
Từ ngày 10/6, NHNN sẽ thanh, kiểm tra hoạt động cho vay hỗ trợ lãi suất, việc tuân thủ chế độ quản lý ngoại hối và tuân thủ các giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng.
Tính chung, tổng dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản đến cuối tháng 4/2009 là 155.608 tỷ đồng, chiếm 11% tổng dư nợ (trong khi tỷ lệ này vào cuối năm 2008 là 13,7%). So với cuối năm 2008, tổng dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản đến cuối tháng 4/2009 giảm 19.318 tỷ đồng; trong đó dư nợ cho vay chứng khoán tăng 276 tỷ đồng và dư nợ cho vay bất động sản giảm 19.594 tỷ đồng.
Trong những tháng đầu năm (khi thị trường chứng khoán ngủ đông) tăng trưởng huy động ở mức rất thấp. Từ tháng 4, huy động đã tăng vọt đi kèm với lãi suất huy động cũng tăng khá nhanh; Người ta cũng có cảm giác về một cuộc đua lãi suất mới (khi đó NHTM có thể huy động với mọi giá như những gì đã diễn ra từ đầu năm 2008). Theo công bố của NHNN, đến cuối tháng 5/2009, tổng vốn huy động của hệ thống ngân hàng ước tăng khoảng 13% (cùng kỳ năm ngoái tăng 6,1%) và tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế ước tăng khoảng 15% (cùng kỳ năm ngoái tăng 17,7%) so với cuối năm 2008. Doanh số cho vay, thu nợ 5 tháng đầu năm 2009 ước tương đương khoảng 82 - 83% doanh số cho vay, thu nợ 5 tháng đầu năm 2008. Số dư nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng khá nhanh (trên 30% so với cuối năm 2008). Tỷ lệ nợ xấu so tổng dư nợ tín dụng khoảng 2,6%.
Trái với quan điểm lạc quan nêu trên, dù không đưa ra một số cụ thể nhưng chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới (WB) tại VN, ông Martin Rama, lại lo ngại về vấn đề nợ xấu trong khu vực ngân hàng do suy thoái kinh tế. Ông cho rằng, dù chưa tới mức nghiêm trọng, nhưng đang xuất hiện một số dấu hiệu cho thấy tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng VN có xu hướng tăng đáng phải lưu tâm. Ngoài việc lo ngại về nợ quá hạn đang là hiện hữu, ông Rama còn cảnh báo rằng tín dụng được trợ cấp lãi suất sẽ dẫn tới quá trình phân bố các nguồn vốn một cách ít hiệu quả, làm tổng tín dụng tăng nhanh. Tín dụng tăng nhanh cộng với nhu cầu nguồn vốn lớn có thể sẽ tạo ra những áp lực không cần thiết tới tỷ giá ngoại tệ và những hiệu ứng không thuận lợi khác.
Cần test
Cần lưu ý rằng, tình hình khu vực ngân hàng do NHNN công bố nêu trên là số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Hơn thế nữa, qua một thời kỳ kinh nghiệm, các NHTM đã biết cách để “lẩn tránh kiểm soát” của các cơ quan quản lý. Một số ý kiến khác cũng cho rằng, khi có chủ ý giải ngân cho chứng khoán (khu vực thường bị soi hay hạn chế), các NHTM và người vay có nhiều cách và khi đó dòng tiền sẽ chạy lòng vòng trên giấy tờ nhưng thực tế lại chạy vào chứng khoán. Trong điều kiện như vậy, nên coi số liệu công bố là một cơ sở tham chiếu và vẫn cần kiểm chứng qua kiểm tra thực tế.
Theo thông tin, từ ngày 10/6, NHNN sẽ thanh, kiểm tra hoạt động cho vay hỗ trợ lãi suất, việc tuân thủ chế độ quản lý ngoại hối và tuân thủ các giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng. Mục đích của việc thanh, kiểm tra nhằm đánh giá thực trạng các tổ chức tín dụng trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, của NHNN. Qua đó, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh tồn tại và xử lý nghiêm các sai phạm nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương kích cầu của Chính phủ; đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống. Cho dù không nêu rõ trong đề cương thanh tra, những rõ ràng, việc “test” lại các số liệu do các tổ chức tín dụng báo cáo đang được NHNN đặt ra và đó là một phương pháp tốt cho điều hành chính sách một cách thực tế hơn.
Về tình trạng kinh tế VN hiện nay, chuyên gia WB cũng khuyến nghị Chính phủ nên tăng cường chất lượng của công tác giám sát ngân hàng, quản lý và theo dõi các luồng chu chuyển vốn quốc tế, cùng với việc tiếp tục cải cách khu vực công, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các DNNN lớn và NHTM quốc doanh.
Thạc sĩ Lê Văn Hinh
Các quan ngại của các đại biểu Quốc hội vừa qua và khá nhiều ý kiến đồng nhất rằng, có một luồng tiền lớn không chảy vào khu vực sản xuất mà lại chảy vào vùng rủi ro nào đó (hàm ý chứng khoán, sàn vàng). Người ta cho rằng, không nhìn thấy nhiều chuyển biến ở khu vực sản xuất: như thất nghiệp vẫn gia tăng và thị trường xuất khẩu chưa có dấu hiệu hồi phục (đối với một quốc gia có giá trị xuất khẩu bằng 70% GDP). Và người ta cho rằng khi thị trường chứng khoán sôi sùng sục, mà những hỗ trợ của khu vực sản xuất vật chất không có thì cứ mỗi một bước tăng điểm của thị trường thì nền kinh tế sẽ tiến gần hơn về khu vực mạo hiểm.
Băn khoăn những con số
Theo thông tin công bố về cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản, số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 4/2009 cho thấy, dư nợ cho vay chứng khoán là 7.157 tỷ đồng, tăng 4% so với cuối năm 2008, chiếm 0,5% tổng dư nợ và tương đương 4,4% tổng vốn điều lệ của hệ thống các tổ chức tín dụng (một mức rất thấp so với giới hạn được phép là 20% vốn điều lệ).
Cũng tính đến cuối tháng 4/2009, dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản của các tổ chức tín dụng là 148.451 tỷ đồng, giảm gần 12% so với cuối năm 2008, chiếm 10,5% tổng dư nợ.
Từ ngày 10/6, NHNN sẽ thanh, kiểm tra hoạt động cho vay hỗ trợ lãi suất, việc tuân thủ chế độ quản lý ngoại hối và tuân thủ các giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng.
Tính chung, tổng dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản đến cuối tháng 4/2009 là 155.608 tỷ đồng, chiếm 11% tổng dư nợ (trong khi tỷ lệ này vào cuối năm 2008 là 13,7%). So với cuối năm 2008, tổng dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản đến cuối tháng 4/2009 giảm 19.318 tỷ đồng; trong đó dư nợ cho vay chứng khoán tăng 276 tỷ đồng và dư nợ cho vay bất động sản giảm 19.594 tỷ đồng.
Trong những tháng đầu năm (khi thị trường chứng khoán ngủ đông) tăng trưởng huy động ở mức rất thấp. Từ tháng 4, huy động đã tăng vọt đi kèm với lãi suất huy động cũng tăng khá nhanh; Người ta cũng có cảm giác về một cuộc đua lãi suất mới (khi đó NHTM có thể huy động với mọi giá như những gì đã diễn ra từ đầu năm 2008). Theo công bố của NHNN, đến cuối tháng 5/2009, tổng vốn huy động của hệ thống ngân hàng ước tăng khoảng 13% (cùng kỳ năm ngoái tăng 6,1%) và tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế ước tăng khoảng 15% (cùng kỳ năm ngoái tăng 17,7%) so với cuối năm 2008. Doanh số cho vay, thu nợ 5 tháng đầu năm 2009 ước tương đương khoảng 82 - 83% doanh số cho vay, thu nợ 5 tháng đầu năm 2008. Số dư nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng khá nhanh (trên 30% so với cuối năm 2008). Tỷ lệ nợ xấu so tổng dư nợ tín dụng khoảng 2,6%.
Trái với quan điểm lạc quan nêu trên, dù không đưa ra một số cụ thể nhưng chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới (WB) tại VN, ông Martin Rama, lại lo ngại về vấn đề nợ xấu trong khu vực ngân hàng do suy thoái kinh tế. Ông cho rằng, dù chưa tới mức nghiêm trọng, nhưng đang xuất hiện một số dấu hiệu cho thấy tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng VN có xu hướng tăng đáng phải lưu tâm. Ngoài việc lo ngại về nợ quá hạn đang là hiện hữu, ông Rama còn cảnh báo rằng tín dụng được trợ cấp lãi suất sẽ dẫn tới quá trình phân bố các nguồn vốn một cách ít hiệu quả, làm tổng tín dụng tăng nhanh. Tín dụng tăng nhanh cộng với nhu cầu nguồn vốn lớn có thể sẽ tạo ra những áp lực không cần thiết tới tỷ giá ngoại tệ và những hiệu ứng không thuận lợi khác.
Cần test
Cần lưu ý rằng, tình hình khu vực ngân hàng do NHNN công bố nêu trên là số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Hơn thế nữa, qua một thời kỳ kinh nghiệm, các NHTM đã biết cách để “lẩn tránh kiểm soát” của các cơ quan quản lý. Một số ý kiến khác cũng cho rằng, khi có chủ ý giải ngân cho chứng khoán (khu vực thường bị soi hay hạn chế), các NHTM và người vay có nhiều cách và khi đó dòng tiền sẽ chạy lòng vòng trên giấy tờ nhưng thực tế lại chạy vào chứng khoán. Trong điều kiện như vậy, nên coi số liệu công bố là một cơ sở tham chiếu và vẫn cần kiểm chứng qua kiểm tra thực tế.
Theo thông tin, từ ngày 10/6, NHNN sẽ thanh, kiểm tra hoạt động cho vay hỗ trợ lãi suất, việc tuân thủ chế độ quản lý ngoại hối và tuân thủ các giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng. Mục đích của việc thanh, kiểm tra nhằm đánh giá thực trạng các tổ chức tín dụng trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, của NHNN. Qua đó, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh tồn tại và xử lý nghiêm các sai phạm nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương kích cầu của Chính phủ; đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống. Cho dù không nêu rõ trong đề cương thanh tra, những rõ ràng, việc “test” lại các số liệu do các tổ chức tín dụng báo cáo đang được NHNN đặt ra và đó là một phương pháp tốt cho điều hành chính sách một cách thực tế hơn.
Về tình trạng kinh tế VN hiện nay, chuyên gia WB cũng khuyến nghị Chính phủ nên tăng cường chất lượng của công tác giám sát ngân hàng, quản lý và theo dõi các luồng chu chuyển vốn quốc tế, cùng với việc tiếp tục cải cách khu vực công, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các DNNN lớn và NHTM quốc doanh.
Thạc sĩ Lê Văn Hinh




