Theo thông tin công bố của Bộ Tài chính trong
đề án tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu
của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có tỷ lệ là 1,71 lần, trong khi
bình quân của các công ty niêm yết là 1,53 lần.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là được cho là do doanh nghiệp quá
lạm dụng vốn vay ngân hàng, lạm dụng đòn bẩy tài chính và chạy theo lợi
nhuận bằng cách đầu tư trái ngành tràn lan...
Những con số đáng lo ngạiTại
hội nghị “Căn bệnh thập kỷ của doanh nghiệp Việt Nam” do tạp chí Nhịp
cầu Đầu tư tổ chức tại Hà Nội sáng 23/8, ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc
Chính sách công, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright cho biết,
hiện tại Việt Nam có khoảng 709 doanh nghiệp đang niêm yết trên thị
trường chứng khoán.
Qua
thống kê báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này đến quý 2/2012,
loại trừ trên 50 doanh nghiệp tài chính thuộc các ngân hàng thương mại,
công ty tài chính, công ty chứng khoán... thì còn lại 647 doanh nghiệp
phi tài chính niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán Hà Nội và Tp.HCM.
Tổng
nợ phải trả (bao gồm cả vay ngân hàng, các khoản phải trả khác) trên
vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp này đang là 1,53 lần.
Theo
số liệu phân tích từ các tổ chức tài chính quốc tế có đưa ra báo cáo
tổng hợp của các doanh nghiệp niêm yết tại Mỹ và Trung Quốc vào cuối năm
2011 thì con số tổng nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp
tại Mỹ chỉ là 1,2 lần, còn của Trung Quốc là 1,06 lần.
Dựa
trên 647 doanh nghiệp niêm yết thì nhóm doanh nghiệp xây dựng và bất
động sản có tỷ lệ sử dụng đòn bẩy tài chính cao nhất (2,07 lần), doanh
nghiệp niêm yết phi tài chính (1,53 lần), năng lượng (1,44 lần), nguyên
vật liệu (1,39 lần)..., hàng tiêu dùng là nhóm có tỷ lệ thấp nhất khi
chỉ đạt 0,8 lần.
Việc
sử dụng đòn bẩy tài chính cao trong những năm qua đã phần nào lý giải
những khó khăn mà khối doanh nghiệp xây dựng và bất động sản đang gặp
phải. Theo ông Thành, không có mối quan hệ rõ ràng nào giữa đòn bẩy tài
chính và quy mô của doanh nghiệp. Trong khi phân theo ngành thì có sự
khác biệt rất lớn về tỷ lệ vay nợ giữa các ngành.
Theo
thông tin công bố của Bộ Tài chính trong đề án tái cấu trúc các doanh
nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước có tỷ lệ là 1,71 lần, trong khi bình quân của các công ty niêm
yết là 1,53 lần.
Đứng
về quy mô tuyệt đối thì những tập đoàn như TKV, EVN có con số tuyệt đối
về nợ là cao nhất, nhưng gánh nặng nợ lại thuộc về các tổng công ty như
Sông Đà (8,85 lần), HUD (6,36 lần)...
Còn
theo tính toán của ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc điều hành Vietnam
Capital Partners, so với các nước trong khu vực (Thái Lan, Indonesia,
Malaysia, Philippines), hệ số nợ/vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp
Việt Nam là 1,2 lần, so với mức trung bình 0,45 lần trong khu vực.
Các
doanh nghiệp như: ITC, KBC, HAG, Vinaconex, QCGL, Phát Đạt... đều có tỷ
lệ nợ cao và nằm trong ngưỡng có thể phá sản nếu thị trường diễn biến
xấu.
Mối liên hệ nào với hệ thống ngân hàng?Thời
gian qua Việt Nam đã có sự bùng nổ trong khu vực hệ thống ngân hàng. Từ
một nền kinh tế phát triển tài chính nông nghiệp, tín dụng chỉ tăng 20%
trong thập niên 90, thì nay quy mô tín dụng đã 140%, cao hơn hẳn những
nước Đông Nam Á khác và chỉ thua Trung Quốc.
Tín
dụng ngân hàng đang tập trung vào khu vực doanh nghiệp, khi tính đến
30/4/2012, dư nợ tín dụng cho khu vực doanh nghiệp chiếm 77,2% (2.021
nghìn tỷ đồng, trong đó có trên 400 nghìn tỷ đồng là dư nợ cho vay khối
doanh nghiệp nhà nước), nông nghiệp chiếm 8,8% (231 nghìn tỷ đồng), cá
nhân và hộ gia đình chiếm 13,9% (365 nghìn tỷ đồng).
Để
giảm tải gánh nặng nợ nần trên, các chuyên gia kinh tế tham dự hội nghị
cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang xuất hiện xu hướng giảm nợ hay
thoái nợ. Điều đó được thể hiện thông qua các diễn biến như: trên phương
diện vĩ mô tỷ lệ tín dụng/GDP đang chững lại và thậm chí giảm xuống; từ
phía các tổ chức tín dụng, thì nguồn vốn tăng lên nhưng cho vay không
đổi.
Chính vì
lẽ đó, ngân hàng đã và đang hướng đầu tư vào các tài sản chính an toàn
(trái phiếu Chính phủ, giấy tờ có giá ngắn hạn), cùng với đó các ngân
hàng cũng hướng vào hoạt động đảo nợ (gia tăng các hạng mục tài sản
trong bảng cân đối kế toán); còn từ phía doanh nghiệp cũng đang có những
diễn biến trái chiều khi các doanh nghiệp có dòng tiền tốt lại lựa chọn
giảm vay nợ, còn những doanh nghiệp gặp khó khăn về dòng tiền muốn vay
nợ mới nhưng hiện tại gánh nặng nợ đã quá lớn nên không vay được vốn từ
các ngân hàng.
Các
chuyên gia cũng cho rằng, trong quá trình thoái nợ này, cần giảm nhanh
tỷ lệ nợ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước thông qua việc bán tài sản,
đẩy mạnh cổ phần hóa, bán một phần tài sản đối với doanh nghiệp đã cổ
phần hóa, dùng nguồn tiền này trả nợ xấu.
Khi
doanh nghiệp nhà nước dùng tiền bán/thanh lý tài sản trả nợ, xử lý nợ
xấu, ngân hàng thu hồi được nợ, nguồn tín dụng được mới khai thông này
có thể dùng cho doanh nghiệp khác, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ
được tiếp cận vốn.
NGÔ MINH